Kit Kat
| Sản phẩm | Bánh kẹo |
|---|---|
| Sở hữu | Nestlé Hershey's (giấy phép Hoa Kỳ) |
| Quốc gia | Vương quốc Anh |
| Ra mắt | tháng 9 năm 1935 |
| Thị trường | Toàn thế giới |
| Cựu chủ sở hữu | Rowntree (1935) |
| Khẩu hiệu | "Have a break...Have a Kit Kat!" (Toàn thế giới) "Gimme a break, Gimme a break, Break me off a piece of that Kit Kat Bar!", "Break time, anytime" (Chỉ Hoa Kỳ) |
| Website | kitkat.com |
Kit Kat là thanh sô cô la dạng thỏi do hãng Rowntree's của York, nước Anh sản xuất. Sản phẩm này được Nestlé (công ty đã mua lại Rowntree's vào năm 1988) sản xuất trên toàn cầu,[1] ngoại trừ ở Hoa Kỳ, nơi nó được sản xuất theo giấy phép của Công ty Hershey (một thỏa thuận mà Rowntree's lần đầu tiên ký kết với Hershey vào năm 1970).[2][3]
Thanh Kit Kat tiêu chuẩn có hai hoặc bốn miếng, được gọi là "ngón tay". Mỗi ngón tay có ba lớp bánh xốp phủ một lớp sô cô la mỏng. Mỗi ngón tay có thể được bẻ riêng ra khỏi thanh. Có nhiều hương vị Kit Kat, bao gồm sô cô la sữa, sô cô la trắng và sô cô la đen.
Phiên bản bốn ngón ban đầu của thanh sô cô la được phát triển sau khi một công nhân tại nhà máy York của Rowntree đưa ra đề xuất trong hộp góp ý về "một loại sô cô la mà đàn ông có thể mang đi làm trong túi đồ ăn của mình".[4] Sản phẩm này được ra mắt vào tháng 9 năm 1935 tại Anh với tên gọi Rowntree's Chocolate Crisp và phiên bản hai thanh sau đó được ra mắt vào năm 1936. Nó được đổi tên thành Kit Kat Chocolate Crisp vào năm 1937 và chỉ còn là Kit Kat sau Thế chiến II.[5]
Kể từ lần đầu tiên xuất hiện trên truyền hình trong một quảng cáo của Anh vào năm 1958, khẩu hiệu quảng cáo của Kit Kat ở Anh và các nơi khác là "Hãy nghỉ ngơi... hãy ăn một thanh Kit Kat" ("Have a break... have a Kit Kat").[5][6][7] Từ năm 1986 tại Mỹ, đoạn nhạc quảng cáo trên truyền hình bao gồm câu "Cho tôi nghỉ ngơi chút, cho tôi nghỉ ngơi chút, bẻ cho tôi một miếng Kit Kat!" (“Gimme a break, Gimme a break, Break me off a piece of that Kit Kat bar!")[8]
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Việc sử dụng tên Kit Kat hoặc Kit Cat cho một loại thực phẩm bắt nguồn từ thế kỷ 18, khi những chiếc bánh Scotch pie gọi là Kit Kats được phục vụ tại các cuộc họp của câu lạc bộ chính trị Kit-Cat Club ở London do đầu bếp bánh ngọt Christopher Cat sở hữu.[9]
Nguồn gốc của thương hiệu Kit Kat ngày nay bắt nguồn từ năm 1911, khi Rowntree's đăng ký nhãn hiệu cho các thuật ngữ Kit Cat và Kit Kat. Những cái tên này không được sử dụng ngay lập tức và Kit Kat xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1920, khi Rowntree's tung ra nhãn hiệu sôcôla đóng hộp mang tên Kit Cat. Điều này tiếp tục kéo dài đến những năm 1930, khi Rowntree's chuyển trọng tâm và sản xuất sang các nhãn hiệu Black Magic và Dairy Box. Với việc quảng bá các sản phẩm thay thế, thương hiệu Kit Cat giảm sút và cuối cùng bị ngừng sản xuất.[10] Thanh kẹo bốn ngón tay nguyên bản được phát triển sau khi một công nhân tại nhà máy York của Rowntree đưa ra đề xuất trong hộp góp ý về một món ăn nhẹ mà "một người đàn ông có thể mang đi làm trong túi của mình".[11] Thanh sôcôla này được chính thức ra mắt vào tháng 9 năm 1935, với tên gọi Rowntree's Chocolate Crisp (có giá 2 xu Anh) và được bán ở London và khắp miền nam nước Anh.[12]
Socola giòn Rowntree's được đổi tên thành Kit Kat Chocolate Crisp vào năm 1937.[7][10] Màu sắc và hương vị mới của thương hiệu xuất hiện vào năm 1942, do Chiến tranh Thế giới thứ II, khi tình trạng thiếu lương thực buộc phải thay đổi công thức. Hương vị của Kit Kat được đổi thành socola đen; bao bì bỏ tên gọi Chocolate Crisp và được đổi sang màu xanh lam.[13] Sau chiến tranh, tên gọi được đổi thành Kit Kat, vẫn giữ nguyên công thức sô cô la sữa ban đầu và bao bì màu đỏ.[5]
Sau thành công vang dội tại Vương quốc Anh vào những năm 1940, Kit Kat đã được xuất khẩu sang Canada, Nam Phi, Ireland, Úc và New Zealand. Năm 1957, Donald Gilles, giám đốc điều hành của JWT London, đã tạo ra khẩu hiệu quảng cáo mang tính biểu tượng "Hãy nghỉ ngơi, hãy thưởng thức Kit Kat".[6] Thương hiệu này tiếp tục mở rộng vào những năm 1970 khi Rowntree xây dựng một nhà máy phân phối mới ở Đức để đáp ứng nhu cầu của châu Âu và thiết lập các thỏa thuận phân phối thương hiệu tại Mỹ thông qua Công ty Hershey và tại Nhật Bản thông qua Công ty Fujiya.[10]

Tháng 6 năm 1988, công ty Nestlé của Thụy Sĩ đã mua lại Kit Kat thông qua việc thâu tóm Rowntree's, giúp Nestlé nắm quyền kiểm soát toàn cầu đối với thương hiệu này, ngoại trừ tại Mỹ[14] sản xuất và phân phối đã tăng lên nhờ các cơ sở mới tại Nhật Bản và việc thiết lập thêm các hoạt động sản xuất tại Malaysia, Ấn Độ và Trung Quốc.[10]
Công ty Hershey có giấy phép sản xuất thanh Kit Kat tại Hoa Kỳ từ năm 1970, khi Hershey ký kết thỏa thuận cấp phép với Rowntree's.[3] Thỏa thuận vĩnh viễn bao gồm điều khoản hủy bỏ khi "thay đổi quyền kiểm soát", cho phép Hershey giữ lại giấy phép Kit Kat miễn là Hershey không bị bán. Nestlé, công ty có sự hiện diện đáng kể tại Mỹ, đã phải tôn trọng thỏa thuận cấp phép khi mua lại Rowntree vào năm 1988.[15] Vì Kit Kat là một trong năm thương hiệu hàng đầu của Hershey tại thị trường Mỹ, giấy phép Kit Kat là yếu tố then chốt dẫn đến thất bại của Hershey trong việc thu hút người mua tiềm năng vào năm 2002.[16] Ngay cả Nestlé cũng từ chối mức giá mà Hershey đưa ra.[17] Việc Nestlé bán mảng kinh doanh bánh kẹo tại Mỹ cho Ferrara Candy Company vào năm 2018 không ảnh hưởng đến thanh Kit Kat và do đó, quyền sở hữu sẽ thuộc về Nestlé chứ không phải Ferrara trong trường hợp Hershey được bán.[18]

Các biến thể của thanh sô cô la truyền thống lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1996 khi Kit Kat có vị cam, biến thể hương vị đầu tiên, được giới thiệu tại Anh. Thành công của nó đã dẫn đến nhiều loại khác nhau bao gồm bạc hà và caramel, và vào năm 1999, Kit Kat Chunky ra mắt và đón nhận nồng nhiệt từ người tiêu dùng quốc tế. Các biến thể của Kit Kat truyền thống tiếp tục được phát triển kể từ đó. Năm 2000, Nestlé đã mua lại cổ phần của Fujiya trong thương hiệu này tại Nhật Bản và cũng mở rộng thị trường sang Nhật Bản, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Venezuela, ngoài các thị trường ở Đông và Trung Âu.[10] Trong suốt thập kỷ đó, Kit Kat đã giới thiệu hàng chục hương vị và các sản phẩm mở rộng dòng sản phẩm tại các thị trường tiêu dùng cụ thể. Vào tháng 9 năm 2010, Kit Kat (và Aero) đã kỷ niệm 75 năm thành lập.[19] Nestlé tuyên bố: "Kể từ ngày trọng đại năm 1935, Kit Kat đã khẳng định vị thế vững chắc trong văn hóa Anh, lan tỏa hương vị sô cô la của mình khắp mọi nơi và được bán ở nhiều quốc gia hơn bất kỳ thương hiệu sô cô la nào khác".[20]
Thanh bánh truyền thống có bốn que, mỗi que có kích thước xấp xỉ 1 xentimét (0,4 in) x 9 xentimét (3,5 in). Thanh bánh hai que ra mắt vào những năm 1930 và vẫn là thương hiệu bánh quy bán chạy nhất của công ty kể từ đó.[12] Thanh Kit Kat Chunky năm 1999 (được biết đến với tên gọi Big Kat và Kit Kat Extra Crispy ở Mỹ) có một thanh lớn, rộng khoảng 2,5 cm. Số lượng thanh Kit Kat khác nhau tùy thuộc vào thị trường, từ Kit Kat Petit cỡ nửa thanh ở Nhật Bản, đến các loại ba thanh ở Ả Rập và các thanh cỡ gia đình mười hai thanh ở Úc và Pháp. Thanh Kit Kat được bán riêng lẻ và trong túi, hộp và gói nhiều thanh.
Thiết kế
[sửa | sửa mã nguồn]Khi lần đầu tiên được giới thiệu tại Vương quốc Anh vào năm 1935, thanh sô cô la Rowntree's Chocolate Crisp nguyên bản có bao bì màu đỏ, sau đó chuyển sang màu xanh lam trong một thời gian ngắn từ năm 1945 đến năm 1947.[21] Logo Kit Kat được thêm vào năm 1937.[21] Do tình trạng thiếu sữa sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc – một thời kỳ phân phối hàng hóa theo định mức ở Anh – sô cô la đen được sử dụng thay cho sô cô la sữa trong thời gian đó.[21] Kể từ khi được giới thiệu vào Mỹ vào những năm 1970, bao bì và quảng cáo của Kit Kat của Hershey đã khác biệt so với thương hiệu được sử dụng ở tất cả các quốc gia khác nơi sản phẩm này được bán. Năm 2002, Kit Kat của Hershey đã sử dụng logo hình elip nghiêng được Nestlé sử dụng trên toàn thế giới, mặc dù hình elip có màu đỏ và chữ màu trắng. Phiên bản "Kit Kat Chunky" của Mỹ được gọi là "Big Kat".
Tại Vương quốc Anh, sản phẩm này theo truyền thống được bọc bằng giấy bạc và một dải giấy bên ngoài. Năm 2001, cách bọc này đã được thay đổi thành màng bọc nhựa.[22] Giấy bạc và giấy gói vẫn được sử dụng cho các thanh Kit Kat bán theo gói nhiều thanh. Năm 2020, Kit Kat đã giành được giải thưởng Lausanne Index Prize - Best of Packaging (Giải thưởng Bao bì tốt nhất) cho bao bì sản phẩm.[23]
Thành phần
[sửa | sửa mã nguồn]Nhân bên trong Kit Kat được tiết lộ là (hoặc ít nhất có chứa) chính Kit Kat nghiền nát, theo như trong chương trình "Inside the Factory" của BBC Two.[24] Thành phần của Kit Kat gốc, trừ khi có ghi chú khác, được liệt kê theo thứ tự trọng lượng giảm dần: sô cô la sữa (đường, các thành phần từ sữa, bơ ca cao, ca cao đặc, bột whey, lactose, đậu nành lecithin, polyglycerol polyricinoleate, hương vị tự nhiên), bột mì, đường, dầu cọ đã qua chế biến, ca cao, natri bicarbonate, lecithin đậu nành, men và hương vị tự nhiên.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Nestlé UK Website – History of Rowntree". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2007.
1988 – Nestlé SA buys Rowntree plc.
- ↑ Rao, Tejal (ngày 24 tháng 10 năm 2018). "In Japan, the Kit Kat Isn't Just a Chocolate. It's an Obsession". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2022.
- 1 2 Wiener-Bronner, Danielle (ngày 2 tháng 9 năm 2023). "Kit Kat's coolest flavors aren't sold in the US. Here's why". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "KitKat is named after a man called Christopher". Nestlé. ngày 28 tháng 8 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2020.
- 1 2 3 4 "Have a break, have a KitKat" (PDF). Nestle. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2021.
- 1 2 "Kit Kat: Meccano". BFI. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2021.
- 1 2 "Kit Kat 1955-1959". Yorkshire Film Archive. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2019.
- ↑ "The Story Behind the Music: The Iconic Kit Kat Jingle". NERDBOT. ngày 11 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2020.
- ↑ "Room 9: The Kit-cat Club". National Portrait Gallery, London. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2021.
- 1 2 3 4 5 "Happy 75th birthday Kit Kat". Nestlé. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ↑ "KitKat's 75th anniversary heralded". The Press. Christchurch, New Zealand. ngày 12 tháng 10 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013.
- 1 2 "The History of Kit Kat". Nestlé. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013.
- ↑ "Kit Kat Turns 75". Stevenage, England: Popsop. ngày 11 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013.
- ↑ "Kit Kat Celebrates its 75th Anniversary". Net News Publisher. ngày 12 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013.
- ↑ Dixon, Hugo (ngày 2 tháng 9 năm 2002). "Once Hershey Foods Is Sold Nestle Can Get Kit Kat Back". The Wall Street Journal. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "Nestlé quiet on Hershey sale". Confectionery News. William Reed Business Media. ngày 5 tháng 8 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2013.
- ↑ Sorkin, Andrew Ross (ngày 27 tháng 8 năm 2002). "Possible buyers, seller far apart on Hershey sale / Price and politics are obstacles". San Francisco Chronicle. San Francisco: Hearst Communications. New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013.
- ↑ "Nestle is selling its U.S. candy business to Ferrero for about $2.8 billion". USA Today (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2018.
- ↑ "Nestlé open days celebrate 75th anniversary of KitKat and Aero". York Press. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2021.
- ↑ "Nestlé celebrates the 75th year of KIT KAT". Nestle. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2021.
- 1 2 3 "History of Kit Kat". BreakwithKitKat.weebly. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2019.
- ↑ "BRAND HEALTH CHECK: Kit kat - Has Nestle been wise to repackage Kit Kat? Kit Kat has shed its old-style foil and paper covering for flow wrap and a tear strip. Can it convince consumers that this was the right move, asks Suzy Bashford". www.campaignlive.co.uk (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2026.
- ↑ "2020 L.I.P. Best of Packaging - KitKat". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2021.
- ↑ Leffler, Samantha (ngày 14 tháng 2 năm 2019). "What's Actually in a Kit Kat? The Candy Bars Have a Surprising Ingredient in Their Filling". Us Weekly (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2026.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]
Tư liệu liên quan tới Kit Kat tại Wikimedia Commons- Website chính thức
