Roscosmos
Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. |
| Государственная корпорация по космической деятельности «Роскосмос» | |
Tòa nhà trụ sở Trung tâm Vũ trụ Quốc gia V.V. Tereshkova tại Moscow | |
| Tổng quan về cơ quan | |
|---|---|
| Viết tắt | Roscosmos |
| Thành lập | 25 tháng 2 năm 1992 (với tư cách Cơ quan Vũ trụ Nga) |
| Cơ quan tiền thân |
|
| Loại | Cơ quan vũ trụ |
| Quyền hạn | Chính phủ Nga |
| Trụ sở | Moscow, Nga 55°45′44″B 37°29′31″Đ / 55,76222°B 37,49194°Đ |
| Ngôn ngữ chính thức | Nga |
Tổng giám đốc | Dmitry Bakanov |
| Sân bay vũ trụ chính | |
| Sở hữu bởi | Nga |
| Số nhân viên | 170,500 (2020) |
| Ngân sách hàng năm | |
| Website | roscosmos.ru (archived) |
Tập đoàn Nhà nước về Hoạt động Vũ trụ "Roscosmos",[note 1] thường được gọi ngắn gọn là Roscosmos (tiếng Nga: Роскосмос), là một tập đoàn nhà nước của Liên bang Nga, chịu trách nhiệm về các chuyến bay vào vũ trụ, các chương trình du hành vũ trụ có người lái và các hoạt động nghiên cứu hàng không – vũ trụ.[2]
Khởi nguồn từ chương trình không gian Liên Xô được hình thành từ những năm 1950, Roscosmos xuất hiện sau khi Liên Xô tan rã năm 1991. Ban đầu, nó mang tên Cơ quan Vũ trụ Nga,[note 2] được thành lập ngày 25 tháng 2 năm 1992,[3] rồi được tái cấu trúc vào các năm 1999 và 2004 thành Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Nga[note 3] và Cơ quan Vũ trụ Liên bang (Roscosmos).[note 4][3] Năm 2015, Cơ quan Vũ trụ Liên bang (Roscosmos) được sáp nhập với Tập đoàn Tên lửa và Không gian Thống nhất (United Rocket and Space Corporation), một tập đoàn nhà nước, nhằm tái quốc hữu hóa ngành công nghiệp vũ trụ của Nga, hình thành nên Roscosmos với hình thức hiện nay.[4][5][6]
Roscosmos đặt trụ sở chính tại Moskva, với Trung tâm Điều khiển Sứ mệnh chính ở thành phố Korolyov gần đó, và Trung tâm Huấn luyện Phi hành gia Yuri Gagarin ở “Thành phố Ngôi sao” (Star City), thuộc tỉnh Moskva. Các cơ sở phóng chính của Roscosmos bao gồm Sân bay vũ trụ Baikonur ở Kazakhstan – sân bay vũ trụ đầu tiên và lớn nhất thế giới – và Sân bay vũ trụ Vostochny, đang được xây dựng tại vùng Viễn Đông Nga, thuộc tỉnh Amur. Giám đốc của Roscosmos từ tháng 2 năm 2025 là Dmitry Bakanov.[7]
Với vai trò là đơn vị kế thừa chính của chương trình không gian Liên Xô, di sản của Roscosmos bao gồm vệ tinh đầu tiên trên thế giới, chuyến bay có người lái đầu tiên và trạm vũ trụ đầu tiên. Các hoạt động hiện tại của Roscosmos bao gồm tham gia vận hành Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS), nơi Nga là một trong các đối tác chính. Ngày 22 tháng 2 năm 2019, Roscosmos công bố việc xây dựng trụ sở mới tại Moskva, mang tên Trung tâm Vũ trụ Quốc gia. Đội phi hành gia của Roscosmos được xem là đội ngũ phi hành gia đầu tiên trong lịch sử thế giới.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]
vệ tinh đầu tiên,Sputnik 1 (quả cầu treo dưới trần);
những bộ đồ vũ trụ đầu tiên (góc dưới bên trái);
mô-đun thực hiện chuyến bay có người lái đầu tiên, Vostok 3KA (ở giữa);
vệ tinh kiểu Molniya đầu tiên (góc trên bên phải);
xe tự hành thám hiểm bề mặt không gian đầu tiên, Lunokhod 1 (góc dưới bên phải);
trạm vũ trụ đầu tiên, Salyut 1 (bên trái);
trạm vũ trụ mô-đun đầu tiên, Mir (góc trên bên trái).
Chương trình không gian Liên Xô trước đây không có một cơ quan điều hành trung ương. Thay vào đó, cơ cấu tổ chức của nó mang tính “đa trung tâm”: quyền quyết định chủ yếu nằm trong tay các viện thiết kế và hội đồng các nhà thiết kế, chứ không phải giới lãnh đạo chính trị. Vì vậy, việc hình thành một cơ quan trung ương sau khi Liên Xô được tổ chức lại thành Liên bang Nga là một bước phát triển mới. Cơ quan Vũ trụ Nga được thành lập ngày 25 tháng 2 năm 1992 theo sắc lệnh của tổng thống Yeltsin. Yuri Koptev, người trước đó từng tham gia thiết kế các tàu đổ bộ sao Hỏa tại NPO Lavochkin, trở thành giám đốc đầu tiên của cơ quan này.[8]
rong những năm đầu, cơ quan này gặp khó khăn vì thiếu thực quyền, trong khi các viện thiết kế lớn tìm cách bảo vệ “lãnh địa” và sự tồn tại của riêng mình. Chẳng hạn, quyết định duy trì hoạt động của trạm Mir sau năm 1999 không phải do cơ quan vũ trụ đưa ra mà do hội đồng cổ đông tư nhân của viện thiết kế Energia. Một ví dụ khác là quyết định phát triển tên lửa Angara mới chủ yếu phản ánh khả năng của tổ hợp Khrunichev trong việc thu hút nguồn lực, hơn là một quyết định chiến lược dài hạn có chủ đích từ phía cơ quan.[8]
Thời kỳ khủng hoảng
[sửa | sửa mã nguồn]Thập niên 1990 chứng kiến những vấn đề tài chính nghiêm trọng do dòng tiền suy giảm, buộc cơ quan vũ trụ phải xoay xở và tìm kiếm các cách khác để duy trì hoạt động của các chương trình không gian. Hệ quả là cơ quan này dần đóng vai trò hàng đầu trong lĩnh vực phóng vệ tinh thương mại và du lịch vũ trụ.[cần dẫn nguồn] Trong giai đoạn này, các nhiệm vụ khoa học như tàu thăm dò liên hành tinh hay các sứ mệnh thiên văn chỉ đóng vai trò rất nhỏ. Dù cơ quan có liên hệ với Lực lượng Hàng không vũ trụ Nga, ngân sách của nó không nằm trong ngân sách quốc phòng. Tuy vậy, cơ quan vẫn duy trì được hoạt động của trạm Mir vượt xa thời hạn dự kiến, tham gia đóng góp cho Trạm Vũ trụ Quốc tế và tiếp tục phóng đều đặn các tàu Soyuz và Progress.
Năm 1994, Roscosmos gia hạn hợp đồng thuê sân bay vũ trụ Baikonur với chính phủ Kazakhstan.[9]
Năm 2000: Bắt đầu hợp tác ISS
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 31 tháng 10 năm 2000, một tàu Soyuz được phóng từ sân bay vũ trụ Baikonur lúc 10:53 sáng giờ Kazakhstan. Trên tàu là Chỉ huy Expedition 1 William M. (Bill) Shepherd của NASA và hai phi hành gia Sergei Krikalev và Yuri Gidzenko của Roscosmos. Bộ ba đến Trạm Vũ trụ Quốc tế ngày 2 tháng 11, đánh dấu sự hiện diện liên tục của con người trên phòng thí nghiệm quỹ đạo kể từ đó.[10]
2004–2006: Tình hình được cải thiện
[sửa | sửa mã nguồn]Tháng 3 năm 2004, giám đốc Yuri Koptev được thay thế bởi Anatoly Perminov, người trước đó từng là chỉ huy đầu tiên của Lực lượng Vũ trụ Nga.[8][11]
Nền kinh tế Nga tăng trưởng mạnh trong suốt năm 2005 nhờ giá xuất khẩu cao, đặc biệt là dầu khí, khiến triển vọng tài trợ cho năm 2006 trở nên khả quan hơn. Nhờ đó, Duma Quốc gia Nga đã phê duyệt ngân sách 305 tỷ rúp (khoảng 11 tỉ USD) dành cho Cơ quan Vũ trụ từ tháng 1 năm 2006 đến năm 2015; tổng chi tiêu của Nga cho lĩnh vực không gian trong cùng giai đoạn vào khoảng 425 tỷ rúp.[12] Riêng năm 2006, ngân sách đạt tới 25 tỷ rúp (khoảng 900 triệu USD), tăng 33% so với năm 2005. Theo khuôn khổ ngân sách 10 năm được phê duyệt, ngân sách của Cơ quan Vũ trụ sẽ tăng 5–10% mỗi năm, đảm bảo nguồn vốn ổn định. Bên cạnh đó, Roscosmos cũng dự kiến thu thêm hơn 130 tỷ rúp từ các nguồn khác như đầu tư công nghiệp và các vụ phóng thương mại. Cũng vào khoảng thời gian này, tổ chức The Planetary Society (Mỹ) bắt đầu hợp tác với Roscosmos.
- Các nhiệm vụ khoa học mới: Koronas Foton (phóng tháng 1/2009, mất liên lạc tháng 4/2010), Spektr R (RadioAstron, phóng tháng 7/2011, ngừng hoạt động tháng 5/2019), Intergelizond (khoảng 2011?), Spektr RG (Roentgen Gamma, phóng năm 2019, hiện còn một trong hai kính thiên văn hoạt động), Spektr UV (dự kiến 2030), Spektr M (dự kiến 2030),[13] Celsta (khoảng 2018?) và Terion (khoảng 2018?).
- Khôi phục các vệ tinh Bion với Bion-M (2013)
- Các vệ tinh khí tượng mới Elektro L (phóng tháng 1/2011) và Elektro P (2015)[8]
2006–2012
[sửa | sửa mã nguồn]
Ngân sách không gian liên bang năm 2009 vẫn được giữ nguyên bất chấp khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ở mức khoảng 82 tỷ rúp (2,4 tỉ USD). Năm 2011, chính phủ chi khoảng 115 tỷ rúp (3,8 tỉ USD) cho các chương trình không gian quốc gia.
Ngân sách lõi dành cho các dự án được đề xuất cho năm 2013 vào khoảng 128,3 tỷ rúp. Ngân sách cho toàn bộ chương trình không gian là 169,8 tỷ rúp (5,6 tỉ USD). Đến năm 2015, con số này có thể tăng lên 199,2 tỷ rúp.[11]
Các ưu tiên của chương trình không gian Nga bao gồm họ tên lửa Angara mới và phát triển những vệ tinh thông tin liên lạc, dẫn đường và quan sát Trái Đất từ xa.[cần dẫn nguồn] Hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu GLONASS trong nhiều năm liền là một trong những ưu tiên hàng đầu và có mục ngân sách riêng trong ngân sách không gian liên bang. Năm 2007, GLONASS nhận 9,9 tỷ rúp (360 triệu USD), và theo một chỉ thị do Thủ tướng Vladimir Putin ký năm 2008, sẽ có thêm 2,6 tỉ USD được phân bổ cho việc phát triển hệ thống này.[cần dẫn nguồn]
- Các vấn đề về tài trợ cho trạm vũ trụ
Do sự tham gia sâu vào Trạm Vũ trụ Quốc tế, tính đến năm 2009, tới 50% ngân sách không gian của Nga được chi cho các chương trình có người lái. Một số nhà quan sát cho rằng điều này gây tác động tiêu cực đến các lĩnh vực khám phá không gian khác, trong khi các cường quốc không gian khác thường chỉ dành một tỷ lệ nhỏ hơn nhiều ngân sách để duy trì sự hiện diện của con người trên quỹ đạo.[14]
Mặc dù ngân sách đã được cải thiện đáng kể, được giới lập pháp và hành pháp quan tâm, báo chí đưa tin tích cực và nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong dân chúng, chương trình không gian Nga vẫn đối mặt với nhiều vấn đề.[15] Mức lương trong ngành không gian thấp; độ tuổi trung bình của nhân viên cao (46 tuổi vào năm 2007),[15]và nhiều trang thiết bị đã lạc hậu.[cần dẫn nguồn] Ở chiều hướng tích cực, nhiều công ty trong ngành đã thu lợi từ các hợp đồng và đối tác nước ngoài; một số hệ thống mới như các tầng tên lửa trên mới đã được phát triển trong những năm gần đây; các dây chuyền sản xuất được đầu tư nâng cấp, và các công ty bắt đầu chú trọng hơn đến việc đào tạo thế hệ kỹ sư, kỹ thuật viên mới.[8]
- 2011 Giám đốc mới
Ngày 29 tháng 4 năm 2011, Perminov được thay thế bởi Vladimir Popovkin trên cương vị giám đốc Roscosmos. Ở tuổi 65, Perminov đã quá độ tuổi quy định cho quan chức nhà nước và phải chịu một số chỉ trích sau vụ phóng thất bại cụm vệ tinh GLONASS vào tháng 12 năm 2010. Popovkin là cựu chỉ huy Lực lượng Vũ trụ Nga và từng giữ chức Thứ trưởng thứ nhất của Bộ Quốc phòng.[16] Cũng trong năm 2011, sứ mệnh sao Hỏa Fobos-Grunt bị mất ở quỹ đạo thấp của Trái Đất và rơi trở lại Trái Đất vào năm 2012.[17]
Ngân sách
[sửa | sửa mã nguồn]Ngân sách dành cho Cơ quan Vũ trụ Liên bang Nga Roscosmos từ 5 tỷ USD năm 2014 xuống còn 1.7 tỷ USD năm 2020 trong khi ngân sách của NASA năm 2020 lên tới 22.6 tỷ USD.[18]
Các dự án trong tương lai
[sửa | sửa mã nguồn]Dmitry Rogozin, người đứng đầu tập đoàn vũ trụ Nga Roscosmos, gần đây tiết lộ rằng nước này có kế hoạch thực hiện một sứ mệnh mới của riêng họ trên sao Kim và nhiều dự án về sứ mệnh sao Kim đang nằm trong chương trình thăm dò không gian của chính phủ Nga giai đoạn 2021-2030".[19] Tuy nhiên nhiều nhà quan sát tỏ ra nghi ngờ khi một cựu quan chức Roscosmos cho biết Nga không có bất kỳ tàu vũ trụ mới nào" còn chuyên gia không gian độc lập Vitaly Yegorov nói sứ mệnh tới sao Kim, "do sự phức tạp của nhiệm vụ, các nhà khoa học Nga thậm chí không nghĩ đến nó",[20]
Vedomosti dẫn lời quan chức Roscosmos cho biết Nga hiện chế tạo khoảng 15 vệ tinh mỗi năm và đặt mục tiêu tới cuối năm 2025 tăng con số này lên mức từ 200-250 vệ tinh.[21]
Tham nhũng
[sửa | sửa mã nguồn]Lĩnh vực vũ trụ của Nga đã bị tình trạng tham nhũng trong những năm gần đây, các công tố viên đã phát hiện một phần nhỏ trong số 1 tỷ USD gian lận liên quan đến Roscosmos và các tập đoàn quốc phòng và vũ trụ do nhà nước điều hành khác bị phát hiện chỉ trong năm 2018.[22] Các công tố viên Nga cũng phát hiện hơn 150 triệu USD đã bị biển thủ trong quá trình xây dựng sân bay vũ trụ mới Vostochny Cosmodrome trị giá 5 tỷ USD tại vùng Viễn Đông của Nga.[23]
Rò rỉ công nghệ
[sửa | sửa mã nguồn]Tháng 7 năm 2018 nhà khoa học Viktor Kudryavtsev của Roscosmos bị bắt giữ vì cáo buộc làm rò rỉ thông tin phát triển công nghệ tên lửa siêu thanh cho một thành viên của NATO năm 2013.[24]
Kudryavtsev bị buộc tội rò rỉ bí mật tên lửa siêu thanh cho Bỉ. Ông sau đó đã được thả sau hơn một năm bị giam giữ sau khi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối. Kudryavtsev đã giành được giải thưởng cấp nhà nước cho nghiên cứu của mình về động lực học chất khí và chất lỏng. Nhóm nhân quyền Memorial của Nga đã tuyên bố Kudryavtsev là một tù nhân chính trị. Kudryavtsev đã chết vì ung thư ở tuổi 77 năm 2021.[25]
Một người khác là Alexei Temirev, 64 tuổi (năm 2018), bị bắt vào ngày 18 tháng 7 năm 2018 và bị quản thúc vì cáo buộc làm rò rỉ tài liệu bí mật cho Việt Nam.[26] Tòa án ở Rostov đã kết án Tiến sĩ Khoa học Kỹ thuật Alexei Temirev ở Novocherkassk 7,5 năm tù giam vì tội phản quốc cao độ theo điều 275 của Bộ luật Hình sự. Cơ quan An ninh Liên bang FSB buộc Temirev chia sẻ thông tin về thiết bị mà anh ta đã làm việc tại phòng thiết kế cùng với nghiên cứu sinh từ Việt Nam và chuyển bí mật nhà nước cho quốc gia đó.[27]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Ủy ban Nghiên cứu Vũ trụ (COSPAR)
Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ tiếng Nga: Государственная корпорация по космической деятельности «Роскосмос», đã Latinh hoá: Gosudarstvennaya korporatsiya po kosmicheskoy deyatel'nosti)
- ↑ tiếng Nga: Российское космическое агентство, Rossiyskoye kosmicheskoye agentstvo, hay RKA (tiếng Nga: РКА).
- ↑ tiếng Nga: Российское авиационно-космическое агентство, Rossiyskoye aviatsionno-kosmicheskoye agentstvo, commonly known as Rosaviakosmos (tiếng Nga: Росавиакосмос), established on 25 May 1999.
- ↑ tiếng Nga: Федеральное космическое агентство (Роскосмос), Federalnoye kosmicheskoye agentstvo (Roskosmos).
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ ""Роскосмосу" разрешили не возвращать в бюджет часть доходов". ngày 2 tháng 10 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2022.
- ↑ Federation, International Astronautical. "IAF : ROSCOSMOS". www.iafastro.org (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2022.
- 1 2 "25 февраля 1992 года образовано Российское космическое агентство, в настоящее время – Федеральное космическое агентство (Роскосмос)". Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Путин подписал указ об упразднении Федерального космического агентства". РИА Новости. ngày 28 tháng 12 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Avaneesh Pandey (ngày 28 tháng 12 năm 2015). "Russia's Federal Space Agency Dissolved, Responsibilities To Be Transferred To State Corporation". International Business Times. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2015.
- ↑ "Vladimir Putin abolishes Russian space agency Roscosmos". The Financial Express. ngày 28 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2016.
- ↑ "Dmitry Bakanov replaces Yury Borisov as Roscosmos CEO - Kremlin". Interfax. ngày 6 tháng 2 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 Harvey, Brian (2007). "The design bureaus". The Rebirth of the Russian Space Program (ấn bản thứ 1). Germany: Springer. ISBN 978-0-387-71354-0.
- ↑ "The Brief — The Baikonur face-off". EURACTIV MEDIA NETWORK BV. ngày 16 tháng 3 năm 2023.
- ↑ Loff, Sarah (ngày 28 tháng 10 năm 2015). "Oct. 31, 2000, Launch of First Crew to International Space Station". NASA. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
- 1 2 "Бюджет на 2013 год предполагает рекордное финансирование космонавтики". Spacecorp.ru (bằng tiếng Nga). Spacecorp.ru. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013.
- ↑ "Russian govt agrees 12.5 bln eur 10-yr space programme". Forbes. ngày 15 tháng 7 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2007.
- ↑ "Российские ученые создали новую технологию для космических телескопов". Взгляд (Vzglyad) (bằng tiếng Nga). Vz.ru. ngày 12 tháng 2 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013.
- ↑ Afanasyev, Igor; Dmitri Vorontsov (ngày 1 tháng 11 năm 2009). "Building on sand?The Russian ISS segment is to be completed by 2016". Russia & CIS Observer. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010.
- 1 2 "Russia's Space Program in 2006: Some Progress but No Clear Direction". Moscow Defense Brief. 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2009.
- ↑ "Space Agency Chief Replaced". The Moscow Times. ngày 3 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2011.
- ↑ "Russia's failed Phobos-Grunt space probe heads to Earth". BBC News (bằng tiếng Anh). BBC. ngày 14 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Alison Snyder, Miriam Kramer. "A reckoning for Russia's space program".
- ↑ "Quan chức Nga: Sao Kim là một 'hành tinh Nga'".
- ↑ "The fiery chief of Russia's troubled space programme".
- ↑ "Roscosmos đặt mục tiêu chế tạo từ 200 đến 250 vệ tinh mỗi năm".
- ↑ "Russia Shields Fraud-Plagued Space Agency From Foreign Scrutiny".
- ↑ "Over $150M Embezzled in Construction of Russia's Far East Spaceport — Prosecutors".
- ↑ "Russia Is Slowly Declining As a Space Superpower".
- ↑ "Leading Russian Physicist Charged With Treason Dies of Cancer".
- ↑ "Second Russian Scientist Charged With Treason in July".
- ↑ "Court in Rostov-on-Don sentences scientist to 7.5 years in jail for high treason".
