close
Bước tới nội dung

Wolverhampton Wanderers F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Wolverhampton Wanderers)
Wolverhampton Wanderers
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Wolverhampton Wanderers
Biệt danhWolves (Bầy sói)
The Old Gold[1]
Thành lập1877; 149 năm trước (1877), với tên gọi St. Luke's F.C.
SânSân vận động Molineux
Sức chứa32.050[2]
Chủ sở hữuFosun International
Chủ tịchNathan Shi (tạm quyền)[3]
Huấn luyện viên trưởngCésar Peixoto
Giải đấuEFL Championship
2025–26Premier League, thứ 20 trên 20 (xuống hạng)
Websitewolves.co.uk
Mùa giải hiện nay
Khán đài Steve Bull, Sân vận động Molineux, 2025

Câu lạc bộ bóng đá Wolverhampton Wanderers (tiếng Anh: Wolverhampton Wanderers Football Club) (/ˌwʊlvərˈhæmptən/ WUUL-vər-HAMP-tən), thường được gọi là Wolves,[1] là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Wolverhampton, Anh. Câu lạc bộ thi đấu tại Premier League, hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Câu lạc bộ đã thi đấu tại Sân vận động Molineux kể từ khi chuyển từ Dudley Road vào năm 1889. Bộ trang phục truyền thống của câu lạc bộ gồm áo và tất màu vàng úa với quần đùi màu đen. Kể từ năm 1979, bộ trang phục cũng có thêm biểu trưng "đầu sói" của câu lạc bộ. Wolves có những mối kình địch lâu đời với các câu lạc bộ khác ở West Midlands, bao gồm Aston Villa, Stoke CityBirmingham City, nhưng đáng chú ý nhất là derby Black Country với West Bromwich Albion. Kể từ năm 2016, câu lạc bộ thuộc sở hữu của tập đoàn Trung Quốc Fosun International.

Được thành lập với tên gọi St. Luke's F.C. vào năm 1877, câu lạc bộ đổi tên thành Wolverhampton Wanderers hai năm sau đó và trở thành một trong những thành viên sáng lập của Football League vào năm 1888. Họ giành Cúp FA lần đầu tiên vào năm 1893, và lại đăng quang vào năm 1908 với tư cách một đội bóng Second Division sau khi xuống hạng hai năm trước đó. Họ rơi xuống hạng Ba vào năm 1923, nhưng sau đó vô địch Third Division North mùa giải 1923-24 và vô địch Second Division ở mùa giải 1931-32. Đội bóng giành chức vô địch quốc gia Anh ba lần – vào các mùa giải 1953-54, 1957-581958-59 – đều dưới sự dẫn dắt của Stan Cullis. Wolves cũng giành thêm hai chức vô địch Cúp FA nữa, vào các năm 19491960. Sau khi xuống hạng năm 1965, chấm dứt 26 mùa giải liên tiếp ở hạng đấu cao nhất, họ giành quyền trở lại First Division ở mùa giải 1966-67. Wolves giành Cúp Liên đoàn vào các năm 19741980, đồng thời một lần nữa vô địch Second Division ở mùa giải 1976-77.

Wolves rơi vào khủng hoảng tài chính trong thời kì suy thoái đầu thập niên 1980, khiến câu lạc bộ tiến gần tới việc thanh lí vào năm 1982. Trong năm mùa giải từ 1981-82 đến 1985-86, Wolves xuống hạng bốn lần (dù cũng có một lần thăng hạng ở mùa giải 1982-83), đồng nghĩa với việc câu lạc bộ rơi xuống hạng đấu khi đó là Football League Fourth Division (nay là EFL League Two) lần đầu tiên – và cho tới nay là duy nhất – trong lịch sử. Tuy nhiên, câu lạc bộ ngay lập tức bắt đầu một cuộc hồi sinh nhanh chóng, và sau khi để thua trong trận chung kết play-off đầu tiên của Football League tại năm 1987, Wolves đã vô địch Fourth DivisionFootball League Trophymùa giải 1987-88, tiếp đó là chức vô địch Third Divisionmùa giải 1988-89.

Sau mười bốn mùa giải ở hạng Hai trong giai đoạn 1989-2003, Wolves lần đầu tiên giành quyền lên Premier League, giải đấu được thành lập vào năm 1992, nhờ chiến thắng tại vòng play-off năm 2003, dù ở lần này họ lại xuống hạng chỉ sau một mùa giải ở hạng đấu cao nhất. Wolves vô địch Championship mùa giải 2008-09 để trở lại Premier League, nhưng lại xuống hạng ở mùa giải 2011-12, rồi tiếp tục xuống hạng một lần nữa (xuống EFL League One) ở mùa giải 2012-13. Sau đó, câu lạc bộ trở lại Premier League sau khi lần lượt vô địch League One mùa giải 2013-14, rồi thêm một chức vô địch Championship nữa ở mùa giải 2017-18.

Sau khi trở thành một trong những câu lạc bộ Anh đầu tiên lắp đặt đèn pha tại sân nhà vào năm 1953, Wolves đã tổ chức các "trận giao hữu dưới ánh đèn" được truyền hình với những câu lạc bộ hàng đầu nước ngoài trong giai đoạn 1953-1956, nổi bật nhất là trận đấu nổi tiếng với Honved, những trận đấu đã góp phần quan trọng vào sự ra đời của Cúp C1 châu Âu (nay là UEFA Champions League) vào năm 1955. Wolves vào tới tứ kết giải đấu này ở mùa giải 1959-60, cũng như vào tới bán kết của 1960-61 European Cup Winners' Cuptrận chung kết UEFA Cup đầu tiên vào năm 1972. Sau 39 năm vắng bóng ở các giải đấu UEFA, họ vào tới tứ kết UEFA Europa League năm 2020.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thành và Football League (1879-1893)

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong ấn bản năm 2000 của The Rough Guide to English Football, phần lịch sử ở trang viết về Wolves mở đầu như sau: "Chính cái tên Wolves đã vang dội qua từng trang sử bóng đá Anh".[4] Cũng như một số câu lạc bộ khác, chẳng hạn như Everton, Wolves có khởi đầu khiêm tốn dưới tác động đồng thời của môn cricketnhà thờ Thiên Chúa giáo. Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1877 với tên gọi St. Luke's F.C. bởi John Baynton và John Brodie, hai học sinh của Trường Nhà thờ St Luke ở Blakenhall, sau khi được hiệu trưởng Harry Barcroft tặng một quả bóng đá.[5] Đội bóng chơi trận đầu tiên vào ngày 13 tháng 1 năm 1877 trước đội dự bị của Stafford Road, rồi sau đó sáp nhập với bộ phận bóng đá của một câu lạc bộ cricket địa phương tên là Blakenhall Wanderers để hình thành nên Wolverhampton Wanderers vào tháng 8 năm 1879.[4][5] Sau khi ban đầu thi đấu trên hai dải đất trong thị trấn, họ chuyển tới một địa điểm lớn hơn tại Dudley Road vào năm 1881, trước khi giành danh hiệu đầu tiên vào năm 1884 khi vô địch Wrekin Cup, trong một mùa giải mà họ cũng chơi trận đấu đầu tiên tại Cúp FA.[5] Sau khi trở thành câu lạc bộ chuyên nghiệp, họ được đề cử trở thành một trong mười hai thành viên sáng lập của Football League vào năm 1888,[6] trong đó họ góp mặt ở vòng đấu đầu tiên trong lịch sử Football League, gặp Aston Villa vào ngày 8 tháng 9 năm 1888.[7] Họ kết thúc mùa giải đầu tiên ở vị trí thứ ba, đồng thời lọt vào trận chung kết Cúp FA đầu tiên, nhưng thua 0-3 trước nhà vô địch "cú đúp" đầu tiên là Preston North End. Sau khi mùa giải kết thúc, câu lạc bộ chuyển sân lần cuối cùng khi dời đến Molineux, khi đó là một công viên giải trí mang tên Molineux Grounds.[5]

Thành công ở Cúp FA và những năm tháng chiến tranh (1893-1950)

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội hình Wolves vô địch Cúp FA năm 1893

Wolves lần đầu tiên giành Cúp FA vào năm 1893 khi đánh bại Everton với tỉ số 1-0, và có lần thứ ba góp mặt trong trận chung kết Cúp FA vào năm 1896. Câu lạc bộ bổ sung thêm một lần đăng quang ở trận chung kết Cúp FA nữa (chiến thắng 3-1 trước Newcastle United) vào năm 1908, hai năm sau khi lần đầu tiên rơi xuống Second Division. Sau nhiều năm vật lộn ở giai đoạn trước và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất để giành lại vị trí ở hạng đấu cao nhất (một giai đoạn bị ngắt quãng bởi thêm một lần góp mặt ở trận chung kết Cúp FA năm 1921), câu lạc bộ phải chịu thêm một lần xuống hạng nữa vào năm 1923, rơi xuống Third Division (North), giải đấu mà họ vô địch ngay trong lần đầu tiên. Tám năm sau khi trở lại Second Division, Wolves giành lại vị thế ở hạng đấu cao nhất với tư cách nhà vô địch Second Division dưới sự dẫn dắt của Major Frank Buckley sau hai mươi sáu năm xa cách. Dưới thời Buckley, đội bóng khẳng định mình là một trong những đội câu lạc bộ hàng đầu nước Anh trong những năm ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, khi họ hai mùa liên tiếp về nhì tại giải vô địch quốc gia (1937-381938-39), đồng thời lọt vào trận chung kết Cúp FA cuối cùng trước chiến tranh, nơi họ gây thất vọng khi để thua bất ngờ trước Portsmouth.[8][9][10]mùa giải 1937-38, Wolves tiến rất gần tới chức vô địch quốc gia Anh đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ: chỉ cần thắng ở trận cuối cùng trên sân khách trước Sunderland là đủ để đăng quang, nhưng rốt cuộc Wolves lại thua 0-1 và vì thế khép lại mùa giải với số điểm kém nhà vô địch sau cùng là Arsenal đúng một điểm.[11] Một trong những điều khiến Major Buckley và đội Wolves của ông thu hút rất nhiều sự chú ý trong hai mùa giải trọn vẹn cuối cùng trước khi bóng đá vô địch quốc gia bị đình chỉ vì Chiến tranh thế giới thứ hai là việc Buckley khăng khăng yêu cầu các cầu thủ của mình tiêm chiết xuất từ tuyến khỉ để tăng sức bền và phong độ, một phương pháp mà Football League không tán thành nhưng cũng không cấm.[12]

Khi bóng đá vô địch quốc gia trở lại sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Wolves lại thêm một lần thất bại vào ngày cuối ở First Division. Cũng giống như năm 1938, chiến thắng ở trận cuối cùng sẽ giúp họ vô địch, nhưng thất bại 1-2 trước đối thủ cạnh tranh ngôi đầu là Liverpool khiến Liverpool trở thành nhà vô địch.[13] Trận đấu này cũng là trận cuối cùng của Stan Cullis trong màu áo Wolves, và một năm sau ông trở thành huấn luyện viên của câu lạc bộ. Ngay ở mùa giải đầu tiên dưới quyền Cullis, ông đã đưa Wolves tới danh hiệu lớn đầu tiên sau 41 năm khi họ đánh bại Leicester City để giành Cúp FA, và một năm sau đó, chỉ hiệu số bàn thắng bại mới ngăn Wolves giành chức vô địch quốc gia.[14][15]

Kỉ nguyên Stan Cullis (1950-1960)

[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1950 là giai đoạn thành công nhất trong lịch sử câu lạc bộ.[16] Được dẫn dắt bởi đội trưởng Billy Wright, Wolves cuối cùng đã giành chức vô địch quốc gia lần đầu tiên ở mùa giải 1953-54, vượt qua đối thủ cùng khu vực West Bromwich Albion vào giai đoạn cuối mùa giải. Hai chức vô địch nữa nhanh chóng đến trong hai mùa liên tiếp (1957-581958-59), khi Wolves cạnh tranh với Manchester United để được công nhận là đội bóng mạnh nhất nước Anh vào thời điểm đó. Wolves nổi tiếng không chỉ vì thành công trong nước của câu lạc bộ mà còn vì việc tổ chức những "trận giao hữu dưới ánh đèn" danh tiếng với các đội câu lạc bộ hàng đầu khác trên khắp thế giới.[17] Wolves là một trong những đội câu lạc bộ đầu tiên tại Anh đầu tư vào hệ thống đèn pha vào năm 1953 với chi phí 10.000 bảng Anh[18] (tương đương £300.000 vào năm 2026). Có lẽ trận giao hữu nổi tiếng nhất trong số này là khi Wolves đánh bại một đội Honvéd có nhiều thành viên của đội tuyển Hungary – đội tuyển vừa khiến đội tuyển Anh bẽ mặt hai lần – qua đó khiến truyền thông quốc gia tuyên bố Wolves là "Nhà vô địch thế giới".[19] Điều này trở thành cú hích cuối cùng để Gabriel Hanot, biên tập viên của L'Équipe, đề xuất việc tạo ra Cúp C1 châu Âu (sau này được đổi tên thành UEFA Champions League). Wolves là một trong những câu lạc bộ Anh đầu tiên tham dự giải đấu này.[19] Ở mùa giải 1957-58, Wolves đánh bại Real Madrid với tổng tỉ số 5-4 (thắng 3-2 tại Wolverhampton và hòa 2-2 tại Madrid) trong các trận giao hữu lượt đi và lượt về.[20]

Thành công ở các giải cúp trong thập niên 1960 và 1970 (1960-1980)

[sửa | sửa mã nguồn]
Biểu đồ thể hiện thành tích hằng năm của Wolves trong hệ thống Football League Anh.

Thập niên 1960 mở đầu bằng chức vô địch Cúp FA thứ tư, và Wolves suýt nữa đã hoàn thành "cú đúp" giải vô địch quốc gia và Cúp FA đầu tiên của thế kỉ 20 trong bóng đá Anh. Họ bị Burnley vượt qua trong cuộc đua vô địch nhờ hơn đúng một điểm ở ngày cuối cùng của mùa giải. Bất chấp khởi đầu tươi sáng đó, thập niên 1960 lại chứng kiến Wolves bắt đầu sa sút. Sau khi kết thúc ở vị trí á quân giải vô địch quốc gia mùa giải 1959-60 và đứng thứ ba đầy ấn tượng trong mùa giải Tottenham Hotspur giành "cú đúp", đội bóng dần đi xuống và chính Cullis cũng bị sa thải sau mười sáu năm tại vị vào tháng 9 năm 1964, sau khởi đầu thảm hại ở mùa giải 1964-65.[16] Việc Cullis bị sa thải cũng không thể ngăn mùa giải kết thúc bằng việc xuống hạng (lần đầu tiên Wolves xuống hạng kể từ mùa giải 1922-23) và quãng thời gian đầu tiên của câu lạc bộ ngoài hạng đấu cao nhất kể từ năm 1932. Tuy nhiên, quãng thời gian xa rời hạng đấu cao nhất chỉ kéo dài đúng hai mùa giải, khi Wolves thăng hạng năm 1967 với tư cách á quân Second Division.[21]

Trong kì nghỉ giữa mùa giải năm 1967, Wolves chơi một mùa giải thu nhỏ ở Bắc Mỹ với giải United Soccer Association non trẻ, giải đấu đã mời các câu lạc bộ từ châu Âu và Nam Mỹ sang thi đấu. Chơi dưới tên gọi "Los Angeles Wolves", họ vô địch Western Division và sau đó giành luôn chức vô địch chung cuộc khi đánh bại nhà vô địch Eastern Division là Washington Whips (đội đại diện của Aberdeen) trong trận chung kết quyết định.[22]

Việc câu lạc bộ trở lại hạng đấu cao nhất của Anh vào năm 1967 mở ra thêm một giai đoạn thành công tương đối dưới quyền Bill McGarry, với vị trí thứ tư tại giải vô địch quốc gia năm 1971 giúp Wolves giành vé dự UEFA Cup mới được thành lập.[23] Trên đường tiến vào trận chung kết Cúp UEFA, họ đã đánh bại JuventusFerencváros trước khi thua Tottenham Hotspur với tổng tỉ số 2-3; thất bại 1-2 trên sân nhà ở lượt đi là yếu tố mang tính quyết định.[24] Wolves giành thêm danh hiệu hai năm sau đó khi vô địch Cúp Liên đoàn lần đầu tiên, đánh bại Manchester City với tỉ số 2-1 trong trận chung kết.[25]lại xuống hạng vào năm 1976, Wolves lập tức trở lại ngay trong lần đầu tiên nỗ lực với tư cách nhà vô địch Second Division dưới quyền huấn luyện viên Sammy Chung,[21] và sau đó, dưới quyền huấn luyện viên John Barnwell, vào thời điểm chuyển giao thập niên, họ đã kết thúc trong top 6 của giải vô địch quốc gia và giành Cúp Liên đoàn 1980, khi bản hợp đồng kỉ lục lúc bấy giờ Andy Gray ghi bàn duy nhất trong trận chung kết để đánh bại nhà đương kim vô địch châu Âu và đương kim vô địch Cúp Liên đoàn là Nottingham Forest.[26]

Khủng hoảng tài chính, sa sút và phục hồi (1980-1990)

[sửa | sửa mã nguồn]

Việc tái thiết Khán đài Molineux Street với chi phí hàng triệu bảng vào năm 1979 là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc câu lạc bộ gần như sụp đổ về tài chính trong thập niên tiếp theo. Số lượng khán giả tới sân sụt giảm mạnh vào đầu thập niên 1980,[27] ít nhất một phần do suy thoái kinh tế cả ở cấp quốc gia lẫn địa phương, cùng với những khó khăn kéo theo trong việc trả các khoản vay đã dùng để xây dựng khán đài John Ireland mới, đã khiến câu lạc bộ rơi vào quản lí tài sản và xuống hạng vào năm 1982. Câu lạc bộ được cứu khỏi việc giải thể vào phút chót khi được một liên danh do cựu cầu thủ Derek Dougan đứng đầu mua lại.[28] Thương vụ tiếp quản này, được tài trợ bởi hai anh em người Saudi là Mahmud và Mohammad Bhatti của công ty Allied Properties,[29] đã đem lại ngay suất thăng hạng trở lại First Division dưới quyền huấn luyện viên Graham Hawkins, nhưng việc anh em Bhatti không đầu tư đủ cho câu lạc bộ đã sớm khiến mọi thứ sụp đổ, và đội bóng phải chịu ba lần xuống hạng liên tiếp qua các hạng đấu dưới quyền nhiều huấn luyện viên khác nhau,[30] đồng thời đối mặt gần như thường xuyên với nguy cơ câu lạc bộ bị giải thể.[31][32]

Năm 1986, khi câu lạc bộ một lần nữa rơi vào tình trạng quản lí tài sản, một thỏa thuận đã được thực hiện trong đó Wolverhampton City Council mua lại sân vận động và phần đất xung quanh, còn một nhà phát triển địa phương thanh toán các khoản nợ tồn đọng của câu lạc bộ để đổi lấy quyền quy hoạch phát triển khu đất liền kề sân vận động.[33] Mùa giải 1986-87 chứng kiến chiến dịch đầu tiên của Wolves ở Fourth Division, nơi dưới sự dẫn dắt của tân huấn luyện viên Graham Turner, cùng các bàn thắng của Steve Bull, người sau này ghi tổng cộng 306 bàn và lập kỉ lục của câu lạc bộ,[34] đội bóng đã vào tới trận chung kết play-off đầu tiên nhưng bị Aldershot ngăn cản trên con đường thăng hạng. Dựa trên nền tảng đó, trong hai mùa giải tiếp theo đội bóng lần lượt giành chức vô địch Fourth DivisionThird Division, đồng thời vô địch 1988 Football League Trophy Final tại Wembley.

Những năm Jack Hayward (1990-2007)

[sửa | sửa mã nguồn]
Tập tin:Wolves Football League Championship 2008-09 030509.jpg
Ăn mừng chức vô địch Championship năm 2009

Người hâm mộ lâu năm Jack Hayward đã mua lại câu lạc bộ vào năm 1990 và ngay lập tức tài trợ cho việc tái phát triển toàn diện sân Molineux khi ấy đã xuống cấp thành một sân vận động hiện đại hoàn toàn có ghế ngồi.[35] Khi công việc hoàn tất vào năm 1993, Hayward chuyển hướng đầu tư sang đội hình thi đấu nhằm cố gắng giành quyền thăng hạng lên Premier League mới được thành lập. Bất chấp khoản chi tiêu lớn, არც Graham Taylor lẫn Mark McGhee đều không thể hiện thực hóa mục tiêu này, khi cả hai huấn luyện viên đều đưa đội bóng tới thất bại ở bán kết play-off vào các năm 19951997. Mãi đến năm 2003 Wolves mới thăng hạng, khi họ đánh bại Sheffield United 3-0 trong trận chung kết play-off dưới quyền Dave Jones, qua đó chấm dứt 19 năm vắng bóng khỏi hạng đấu cao nhất.[36] Tuy nhiên, quãng thời gian đó tỏ ra ngắn ngủi khi họ lập tức xuống hạng trở lại Championship vừa được đổi tên.

Thăng hạng, xuống hạng và những năm tháng đầy biến động (2007-2016)

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi cựu huấn luyện viên đội tuyển Anh Glenn Hoddle không thể giúp đội bóng nhanh chóng trở lại Premier League, việc tái thiết đội hình dưới quyền Mick McCarthy đã hồi sinh câu lạc bộ bằng một suất vào play-off ngoài mong đợi.[37] Câu lạc bộ được mua lại từ Sir Jack Hayward bởi Steve Morgan vào năm 2007[38] và hai năm sau đội bóng trở lại Premier League với tư cách nhà vô địch Football League 2008-09 Championship.[39] Wolves chiến đấu thành công với nguy cơ xuống hạng trong hai mùa giải trước khi McCarthy bị sa thải ở mùa giải 2011-12,[40] điều này dẫn tới việc xuống hạng dưới quyền trợ lí cũ của ông là Terry Connor, người được đôn lên thay McCarthy.[41]

Sau khi xuống hạng, người Na Uy Ståle Solbakken trở thành huấn luyện viên nước ngoài đầu tiên của câu lạc bộ[42] nhưng nhiệm kì của ông chỉ kéo dài sáu tháng trước khi chuỗi kết quả nghèo nàn khiến ông bị thay thế bởi Dean Saunders vào tháng 1 năm 2013.[43][44] Saunders không thể tạo ra bất kì sự cải thiện nào, đỉnh điểm là việc câu lạc bộ rơi xuống EFL League One, hạng đấu mà câu lạc bộ chưa từng thi đấu kể từ năm 1989, và bản thân Saunders cũng bị sa thải.[45][46] Sau đó, Kenny Jackett được bổ nhiệm vào tháng 5 năm 2013 với chức danh mới là huấn luyện viên trưởng,[47] và đã đưa đội bóng trở lại EFL Championship ngay trong mùa giải đầu tiên của mình, lập nên kỉ lục mới của câu lạc bộ với 103 điểm, đồng thời lúc đó cũng là kỉ lục mọi thời đại về số điểm nhiều nhất mà bất kì đội bóng nào tích lũy được trong một mùa giải cấp độ 3, cho đến khi mùa giải EFL League One 2024-25 chứng kiến đối thủ cùng vùng Birmingham City đạt được 111 điểm.

Kỉ nguyên Fosun: Trở lại Premier League và bóng đá châu Âu (2016-nay)

[sửa | sửa mã nguồn]
Huấn luyện viên Nuno Espírito Santo đã đưa Wolves trở lại Premier League vào năm 2018, và trở lại đấu trường châu Âu lần đầu tiên sau 39 năm

Vào ngày 21 tháng 7 năm 2016, tập đoàn đầu tư Trung Quốc Fosun International mua lại công ty mẹ của câu lạc bộ là W.W. (1990) Ltd từ Steve Morgan và công ty riêng của ông là Bridgemere Group với giá được cho là 45 triệu bảng Anh, trong khi Jez Moxey rời vị trí giám đốc điều hành và được thay thế bởi giám đốc điều hành Laurie Dalrymple.[48][49] Các ông chủ mới sa thải Kenny Jackett[50] và đưa cựu tuyển thủ Ý Walter Zenga vào vị trí huấn luyện viên trưởng.[51] Zenga bị sa thải chỉ sau 14 trận tại giải vô địch quốc gia, và Paul Lambert được bổ nhiệm làm người kế nhiệm vào tháng 11. Cuối mùa giải, Lambert cũng bị sa thải,[52] và cựu huấn luyện viên FC Porto Nuno Espírito Santo thay thế ông.[53] Dưới thời Nuno, Wolves giành chức vô địch EFL Championship 2017-18 và trở lại Premier League sau sáu năm vắng bóng.

Wolverhampton Wanderers kết thúc ở vị trí thứ 7 trong mùa giải đầu tiên trở lại Premier League, thứ hạng cao nhất của họ ở hạng đấu cao nhất kể từ khi đứng thứ 6 ở mùa giải 1979-80,[54] qua đó giành một suất vào các vòng loại của UEFA Europa League, đồng thời đánh dấu chiến dịch châu lục đầu tiên của họ kể từ mùa giải 1980-81. Họ để thua nhà vô địch sau cùng của mùa giải đó là Sevilla với tỉ số 0-1 trong trận tứ kết chỉ đá một lượt được sửa đổi, tổ chức trên sân trung lập tại Đức do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 tại châu Âu.[55] Wolves lặp lại vị trí thứ 7 của mùa giải trước tại Premier League ở mùa giải 2019-20 nhưng nhiều hơn hai điểm, và chỉ lỡ cơ hội trở lại đấu trường châu lục vì hiệu số bàn thắng bại cũng như việc Arsenal vô địch Cúp FA mùa giải đó.

Trong mùa giải 2020-21, Wolves mất tiền đạo Raúl Jiménez vì chấn thương nghỉ hết mùa (gãy xương sọ) vào tháng 11,[56] và sau đó gặp khó khăn trong việc ghi bàn suốt phần còn lại của mùa giải, kết thúc ở vị trí thứ 13. Espírito Santo rời đi "theo thỏa thuận chung",[57] và được thay thế bởi cựu huấn luyện viên trưởng Benfica Bruno Lage.[58]mùa giải 2021-22, câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ 10. Wolves sa thải Lage vào ngày 2 tháng 10 năm 2022 sau tám trận của mùa giải 2022-23 với chỉ một chiến thắng và vỏn vẹn ba bàn thắng ghi được.[59][60] Cựu huấn luyện viên Real Madrid, đội tuyển Tây Ban Nha và Sevilla là Julen Lopetegui thay thế ông.[61] Dù đứng thứ 20 trên bảng xếp hạng trước trận Premier League đầu tiên của ông, Lopetegui vẫn đưa Wolves kết thúc ở vị trí thứ 13.[62] Ông rời đi trước mùa giải 2023-24 do bất đồng về ngân sách chuyển nhượng hạn chế, và được thay thế bởi cựu huấn luyện viên Bournemouth Gary O'Neil.[63] O'Neil bị sa thải vào tháng 12 năm 2024 khi câu lạc bộ đứng thứ 19, và được thay thế bởi huấn luyện viên người Bồ Đào Nha Vítor Pereira theo một hợp đồng kéo dài đến tháng 6 năm 2026.[64] Pereira bị sa thải vào ngày 2 tháng 11 năm 2025 sau khi không thể thắng bất kì trận nào trong 10 trận đầu tiên của mình và câu lạc bộ đứng cuối bảng xếp hạng. Rob Edwards được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào ngày 12 tháng 11 năm 2025.[65]

Màu sắc và huy hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
Màu sắc nguyên thủy.

Màu sắc truyền thống là vàng và đen của câu lạc bộ gợi nhắc đến khẩu hiệu của hội đồng thành phố là "out of darkness cometh light", trong đó hai màu lần lượt tượng trưng cho ánh sáng và bóng tối.[66] Dù màu áo nguyên thủy của đội bóng khi mới thành lập là đỏ và trắng, được lấy từ màu của Trường St Luke, nhưng trong phần lớn lịch sử của mình, màu áo sân nhà của họ là những chiếc áo màu vàng cổ điển đặc trưng với quần đùi màu đen.[67]

Trong những thập niên đầu tiên của câu lạc bộ, nhiều kiểu thiết kế áo đấu khác nhau với những màu sắc này đã được tạo ra, bao gồm áo sọc và áo chia chéo nửa người, cho đến khi kiểu áo trơn được sử dụng liên tục từ thập niên 1930.[68] Trước thập niên 1960, một sắc vàng đậm hơn được sử dụng,[69] được gọi là "old gold", và đây vẫn là màu thường được truyền thông nhắc đến như màu sắc của câu lạc bộ.[70][71]

Huy hiệu thành phố.

Cũng như phần lớn các đội bóng Anh, những chiếc áo đầu tiên của họ thường chỉ mang huy hiệu trong những dịp đặc biệt như các trận chung kết cúp.[68] Huy hiệu đầu tiên như vậy xuất hiện trên áo của Wolves là huy hiệu của County Borough of Wolverhampton.[68] Vào cuối thập niên 1960, Wolves giới thiệu huy hiệu riêng của câu lạc bộ xuất hiện trên áo đấu, gồm một con sói đang nhảy, sau này trở thành ba con sói đang nhảy vào giữa thập niên 1970. Kể từ năm 1979, huy hiệu gồm một thiết kế "đầu sói" đơn lẻ; huy hiệu hiện tại được thiết kế lại lần gần nhất vào năm 2002.[68][72]

Vào tháng 5 năm 2019, câu lạc bộ thắng trong một vụ kiện pháp lí do Peter Davies, một cựu quản lí ngành xây dựng 71 tuổi, khởi kiện; ông cho rằng mình đã vẽ họa tiết đầu sói này khi còn là học sinh vào thập niên 1960 và gửi nó tham gia một cuộc thi nghệ thuật. Ông Davies nói rằng ông nghĩ ra thiết kế góc cạnh này sau khi một giáo viên yêu cầu ông thể hiện sự hiểu biết về định lí Blaise Pascal's Hexagrammum Mysticum, rồi gửi tác phẩm dự thi vào một cuộc thi nghệ thuật được quảng bá trên báo Express and Star. Ông Davies đã đưa ra yêu cầu bản quyền và muốn được bồi thường. Tuy nhiên, ông thua kiện về vi phạm bản quyền và hiện phải đối mặt với các khoản phí pháp lí và chi phí ước tính khoảng 450.000 bảng Anh.[73]

Màu áo sân khách truyền thống của Wolves là trắng toàn bộ, nhưng trong những thập niên gần đây nhiều màu sắc khác nhau đã được sử dụng, bao gồm đen, xanh lam, xanh ngọc, tím và đỏ hạt dẻ.[68]

Nhà sản xuất trang phục và nhà tài trợ

[sửa | sửa mã nguồn]
Giai đoạn Nhà sản xuất trang phục[74] Nhà tài trợ áo đấu (chính giữa)[74] Nhà tài trợ áo đấu (tay áo)[74]
1974-1982 Umbro Không có tài trợKhông có tài trợ
1982-1985Tatung
1985-1986Không có tài trợ
1986Benjamin Perry
1986-1988SpallStaw
1988-1990ScorelineManders Paint & Ink
1990Goodyear
1990-1992Bukta
1992-1994Molineux
1994-1996Nutmeg
1996-2000Puma
2000-2002Wolves Leisure
2002-2004AdmiralDoritos
2004-2009Le Coq SportifChaucer Consulting
2009-2010Sportingbet
2010-2013Burrda
2013-2015PumaWhatHouse?
2015-2016Silverbug
2016-2018The Money Shop
2018-2019AdidasW88CoinDeal
2019-2020ManBetX
2020-2021Aeroset
2021-2022CastoreBitci.com
2022-2023AstroPay12BET
2023-20246686 Sports
2024–Sudu[75]DEBET[76]JD Sports[77]

Sân vận động

[sửa | sửa mã nguồn]

Các sân trước đây

[sửa | sửa mã nguồn]

Khi mới được thành lập, câu lạc bộ sử dụng một bãi đất trên Goldthorn Hill ở khu vực Blakenhall làm sân nhà, nơi có thể chứa khoảng 2.000 khán giả.[5] Năm 1879, họ chuyển đến John Harper's Field trên Lower Villiers Street, nơi họ ở lại trong hai năm trước khi có một quãng chuyển ngắn tới Dudley Road, với sân mới nằm đối diện Fighting Cocks Inn.[5] Chính tại đây họ đã chơi trận Cúp FA đầu tiên vào năm 1883 và trận Football League đầu tiên vào tháng 9 năm 1888. Dù lúc đầu địa điểm này chỉ chứa được 2.500 khán giả, về sau nó đã được phát triển để có thể đón 10.000 người.[5]

Molineux
Sân vận động Molineux, Wolverhampton, 2018
Sức chứa31.750[2]
Công trình xây dựng
Sửa chữa lại1924-34; 1978-79; 1991-93
Mở rộng2011-12
Kiến trúc sưAlan Cotterell
(các khán đài Billy Wright và Sir Jack Hayward)[78]
AFL (khán đài Stan Cullis)
Atherden & Rutter (khán đài Steve Bull)[79]
Nhà thầu chính
Alfred McAlpine (3 khán đài)
Buckingham Group (khán đài Stan Cullis)
Bên thuê sân
Wolverhampton Wanderers F.C. (1889–nay)

Vào mùa hè năm 1889, câu lạc bộ chuyển tới sân nhà cố định của mình cho tới nay là Molineux, tại khu vực Whitmore Reans của thành phố. Tên của sân vận động bắt nguồn từ Molineux House, được Benjamin Molineux, một thương nhân địa phương, xây dựng trong khu vực này vào thế kỉ 18, và khu đất của nó về sau được phát triển để bao gồm nhiều cơ sở giải trí công cộng. Khi Northampton Brewery Company mua lại khu đất này vào năm 1889, họ cho câu lạc bộ bóng đá của thành phố thuê lại, khi đội bóng đang tìm kiếm một sân nhà phù hợp hơn với một thành viên của Football League.[5] Sau khi cải tạo khu đất, trận đấu chính thức đầu tiên được tổ chức vào ngày 7 tháng 9 năm 1889 trước 4.000 khán giả.[5] Sân có khả năng đón 20.000 khán giả, dù lượng người xem bóng đá Anh trong thế kỉ 19 hiếm khi đạt đến con số đó.[5]

Wolves mua quyền sở hữu vĩnh viễn khu đất vào năm 1923 và nhanh chóng bắt đầu một loạt cải tạo sân dưới sự bảo trợ của Archibald Leitch,[80] bắt đầu bằng việc xây dựng một khán đài lớn ở phía Waterloo Road.[81] Năm 1932, câu lạc bộ cũng xây một khán đài mới ở phía Molineux Street và tiếp đó lợp mái cho South Bank hai năm sau; South Bank này trong lịch sử là một trong những khán đài Kop lớn thứ hai cả nước và thường xuyên đón lượng khán giả vượt quá 30.000 người.[82] Cuối cùng sân vận động đã có đủ bốn khán đài hoàn chỉnh, tạo nên nền tảng của nó trong nửa thế kỉ tiếp theo.

Trong thời kì trước các quy định về ghế ngồi, sân có thể chứa hơn 60.000 khán giả, với kỉ lục là 61.315 người trong một trận First Division gặp Liverpool vào ngày 11 tháng 2 năm 1939.[5] Trong các thập niên 1940 và 1950, lượng khán giả trung bình theo mùa thường xuyên vượt 40.000 người, trùng với giai đoạn đỉnh cao của câu lạc bộ trên sân cỏ.[5] Trong thời gian này, Molineux trở thành một trong những sân bóng đầu tiên tại Anh lắp đặt hệ thống đèn pha, cho phép nơi đây tổ chức một loạt trận giao hữu giữa tuần với các đội bóng từ khắp nơi trên thế giới.[81] Trong thời kì trước khi Cúp C1 châu Âu và các giải đấu câu lạc bộ quốc tế ra đời, những trận đấu này có uy tín rất cao và thu hút lượng lớn khán giả cùng sự quan tâm rộng rãi, trong đó BBC thường xuyên truyền hình các sự kiện như vậy.[17][83]

Khi Khán đài Molineux Street không còn đáp ứng được các quy định an toàn mới, câu lạc bộ bắt đầu xây một khán đài thay thế mới phía sau khán đài hiện hữu trên phần đất nơi nhà ở đã bị phá dỡ. Khán đài toàn ghế ngồi mới này – mang tên Khán đài John Ireland theo tên chủ tịch câu lạc bộ khi đó – được hoàn thành vào năm 1979 và là giai đoạn đầu tiên của kế hoạch tái thiết toàn bộ sân vận động.[81] Chi phí của Khán đài Ireland tăng lên hơn 2 triệu bảng Anh và đẩy câu lạc bộ vào khủng hoảng tài chính. Kết quả là họ buộc phải rơi vào tình trạng quản lí tài sản vào năm 1982.[81] Đến khi đội bóng rơi xuống Fourth Division vào năm 1986, chỉ còn Khán đài John Ireland và khán đài bậc thang South Bank là còn được sử dụng. Những luật an toàn mới được ban hành sau vụ hỏa hoạn sân Bradford City đã buộc cả North Bank và Khán đài Waterloo Road khi đó đã xuống cấp phải đóng cửa. Câu lạc bộ không có đủ kinh phí cần thiết để xây lại chúng.[81]

Sau khi Sir Jack Hayward tiếp quản câu lạc bộ vào năm 1990, nguồn vốn 8,5 triệu bảng Anh đã được cấp để tái phát triển toàn diện Molineux.[5] Từ tháng 8 năm 1991 đến tháng 12 năm 1993, ba phía của sân vận động được xây mới hoàn toàn để tạo thành một sân vận động toàn ghế ngồi với sức chứa 28.525 chỗ, phù hợp với Taylor Report: Khán đài Waterloo Road được thay bằng Khán đài Billy Wright, khán đài bậc thang North Bank được thay bằng Khán đài Stan Cullis, và khán đài bậc thang South Bank được thay bằng Khán đài Sir Jack Hayward (mang tên Jack Harris Stand cho đến năm 2015).[5] Ngoài việc bổ sung một khu ghế tạm thời ở góc tây nam được sử dụng trong các mùa giải Wolves thi đấu tại Premier League,[84] đợt tái thiết này đã định hình sân vận động trong gần hai mươi năm.

Năm 2010, các kế hoạch cho một chương trình tái phát triển quy mô lớn nhằm tăng sức chứa và nâng cấp cơ sở vật chất đã được công bố.[85] Giai đoạn đầu của kế hoạch này là việc Khán đài Stan Cullis hai tầng mới đi vào hoạt động hoàn toàn cho mùa giải 2012-13, nâng sức chứa chính thức hiện tại lên 31.700 chỗ.[86] Giai đoạn thứ hai được đề xuất bao gồm việc xây lại khán đài cũ nhất của sân vận động (được xây năm 1979 với tên John Ireland Stand và đổi tên thành Steve Bull Stand vào năm 2003) để nâng sức chứa lên khoảng 36.000 chỗ, nhưng công việc này và mọi kế hoạch tiếp theo đều bị hoãn lại khi khả năng câu lạc bộ xuống hạng khỏi Premier League vào năm 2012 trở nên rõ ràng.[87]

Việc tái phát triển sân một lần nữa được đưa trở lại chương trình nghị sự sau khi câu lạc bộ được Fosun mua lại vào năm 2016. Trái với những kế hoạch từng được bàn tới trước đó,[88] vào tháng 2 năm 2019, người ta công khai tiết lộ rằng các kế hoạch tương lai gồm việc phá bỏ và xây mới hoàn toàn Khán đài Steve Bull, sau đó là tái phát triển Khán đài Sir Jack Hayward, nhằm nâng sức chứa của sân lên 45-46.000 chỗ, đã được cân nhắc tích cực.[89] Tuy nhiên, vào năm 2020, câu lạc bộ thông báo những kế hoạch khiêm tốn hơn nhằm từng bước cải thiện sân vận động, trong bối cảnh câu lạc bộ muốn giữ lại bản sắc riêng của sân, đồng thời cho phép ưu tiên đầu tư cho đội hình thi đấu của câu lạc bộ.[90]

Cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình đội một

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 7 tháng 2 năm 2026[91]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Bồ Đào Nha José Sá
2 HV Cộng hòa Ireland Matt Doherty (đội phó)
3 HV Tây Ban Nha Hugo Bueno
4 HV Uruguay Santiago Bueno
6 HV Na Uy David Møller Wolfe
7 TV Brasil André
8 TV Brasil João Gomes
9 Anh Adam Armstrong
11 Hàn Quốc Hwang Hee-chan
14 Nigeria Tolu Arokodare
15 HV Colombia Yerson Mosquera
Số VT Quốc gia Cầu thủ
17 HV Brasil Pedro Lima
21 Bồ Đào Nha Rodrigo Gomes
24 HV Bồ Đào Nha Toti Gomes (đội trưởng)
25 TM Anh Daniel Bentley
27 TV Haiti Jean-Ricner Bellegarde
30 Paraguay Enso González
31 TM Anh Sam Johnstone
36 Bồ Đào Nha Mateus Mané
37 HV Séc Ladislav Krejčí (mượn từ Girona)
38 HV Cameroon Jackson Tchatchoua
47 TV Anh Angel Gomes (mượn từ Marseille)

Cho mượn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
5 TV Zimbabwe Marshall Munetsi (cho Paris FC mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[92]
6 TV Mali Boubacar Traoré (cho Metz mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[93]
18 Áo Saša Kalajdžić (cho LASK mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[94]
20 TV Anh Tommy Doyle (cho Birmingham City mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[95]
23 TV Zimbabwe Tawanda Chirewa (cho Barnsley mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
26 HV Hà Lan Ki-Jana Hoever (cho Sheffield United mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[96]
28 TV Tây Ban Nha Fer López (cho Celta Vigo mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
34 HV Burkina Faso Nasser Djiga (cho Rangers mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[97]
33 HV Hà Lan Nigel Lonwijk (cho Luton Town mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[98]
TV Trung Quốc Từ Bân (cho Barnsley mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)[99]

Đội phát triển và học viện

[sửa | sửa mã nguồn]

U-23 Wolverhampton Wanderers đang thi đấu tại Division 2 của Premier League 2 trong mùa giải hiện tại, sau khi xuống hạng từ cấp độ cao nhất do mùa giải trước bị cắt ngắn và được phân định theo điểm trung bình mỗi trận.[100] Đội bóng có tư cách tham dự Premier League 2 nhờ học viện của Wolves đạt hạng Category 1.[101] Dù giải đấu được thiết kế cho các cầu thủ từ 23 tuổi trở xuống, ba cầu thủ quá tuổi cũng có thể ra sân.[101] Các trận sân nhà chủ yếu được tổ chức tại sân Aggborough của Kidderminster Harriers.[102]

Wolves Women

[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu được thành lập vào năm 1975, Wolves Women trở thành đội bóng nữ chính thức của câu lạc bộ vào năm 2008.[103] Hiện nay họ thi đấu ở cấp độ thứ ba của bóng đá nữ Anh trong FA Women's National League North.[104] Các trận sân nhà của họ được tổ chức tại New Bucks Head Ground ở Telford.[105]

Cầu thủ xuất sắc nhất năm

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Người chiến thắng
1977Anh Steve Daley
1978Anh Bob Hazell
1979Wales George Berry
1980Scotland Willie Carr
1981Anh Paul Bradshaw
1982Anh Paul Bradshaw
1983Anh John Burridge
1984Anh Alan Dodd
1985Anh Tim Flowers
1986Anh Floyd Streete
1987Anh Steve Stoutt
1988Anh Steve Bull
1989Anh Andy Mutch
 
Năm Người chiến thắng
1990Anh Mark Venus
1991Anh Mike Stowell
1992Scotland Tom Bennett
1993Anh Paul Cook
1994Anh Andy Thompson
1995Anh Mark Rankine
1996Anh Steve Bull
1997Anh Steve Bull
1998Anh Keith Curle
1999Úc Kevin Muscat
2000Pháp Ludovic Pollet
2001Anh Lee Naylor
2002Scotland Alex Rae
 
Năm Người chiến thắng
2003Anh Joleon Lescott
2004Sénégal Henri Camara
2005Anh Joleon Lescott
2006Scotland Kenny Miller
2007Anh Matt Murray
2008Wales Wayne Hennessey
2009Cộng hòa Ireland Kevin Foley
2010Anh Jody Craddock
2011Anh Matt Jarvis
2012Wales Wayne Hennessey
2013Mali Bakary Sako
2014Scotland Kevin McDonald
2015Anh Richard Stearman
 
Năm Người chiến thắng
2016Cộng hòa Ireland Matt Doherty
2017Angola Hélder Costa
2018Bồ Đào Nha Rúben Neves
2019México Raúl Jiménez
2020México Raúl Jiménez
2021Bồ Đào Nha Pedro Neto
2022Bồ Đào Nha José Sá
2023Bồ Đào Nha Rúben Neves
2024Gabon Mario Lemina
2025Brasil João Gomes

Nguồn:

Quan chức câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]
Nhân sự bóng đá[106]
Nhân sự y tế
  • Bác sĩ câu lạc bộ: Myanmar Kai Win
  • Chuyên viên vật lí trị liệu đội một: Anh Ollie Leaper
  • Chuyên viên trị liệu thể thao đội một: Anh Gregg Jones
  • Chuyên viên trị liệu đội một: Bồ Đào Nha Rui Fuste
  • Chuyên viên trị liệu mô mềm: Anh Matt Butterfield

Các cầu thủ và huấn luyện viên cũ

[sửa | sửa mã nguồn]
Tượng Billy Wright bên ngoài Sân vận động Molineux

Cầu thủ nổi bật

[sửa | sửa mã nguồn]

Để xem chi tiết về các cầu thủ trước đây, xem List of Wolverhampton Wanderers F.C. players

Câu lạc bộ đã được đại diện bởi nhiều cầu thủ nổi bật qua nhiều năm, đáng chú ý nhất là Billy Wright, người đã đeo băng đội trưởng đội tuyển Anh trong kỉ lục 90 trận và là cầu thủ đầu tiên đạt mốc 100 lần khoác áo đội tuyển quốc gia,[110] đồng thời giành giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm (năm 1952),[111] một danh hiệu mà tiền vệ trụ của Wolves là Bill Slater cũng giành được vào năm 1960.[112] Tổng cộng, 36 cầu thủ đã có lần khoác áo đội tuyển Anh trong thời gian chơi cho Wolves, bao gồm cựu đội trưởng của câu lạc bộ Conor Coady[113] cũng như chân sút ghi nhiều bàn nhất lịch sử câu lạc bộ Steve Bull, người là tuyển thủ Anh gần đây nhất của câu lạc bộ từng chơi tại một giải đấu lớn.[114][115]

Andy Gray, Emlyn Hughes, Paul InceDenis Irwin đều là những cầu thủ từng giành huy chương vô địch giải vô địch quốc gia và cũng từng khoác áo Wolves. Joleon Lescott sau đó đã chơi 26 trận cho đội tuyển Anh và ghi một bàn. Robbie Keane sau đó trở thành chân sút ghi nhiều bàn nhất mọi thời đại của Cộng hòa Ireland với 68 bàn sau 146 lần ra sân.

Sảnh Danh vọng Wolverhampton Wanderers đã vinh danh những cựu cầu thủ sau đây:[116]

Lịch sử huấn luyện viên

[sửa | sửa mã nguồn]
Tượng Stan Cullis bên ngoài Molineux.

Wolves đã có 32 huấn luyện viên khác nhau (được bổ nhiệm chính thức lâu dài) trong suốt quá trình tồn tại của câu lạc bộ.[117] Huấn luyện viên đầu tiên, George Worrall, được xác định bằng chức danh "thư kí câu lạc bộ", một vị trí tiếp tục tồn tại cho đến khi việc bổ nhiệm một huấn luyện viên toàn thời gian theo nghĩa hiện đại được thực hiện vào năm 1922.

Huấn luyện viên thành công nhất của câu lạc bộ là Stan Cullis, người có nhiệm kì 16 năm mang về toàn bộ ba chức vô địch quốc gia của Wolves cũng như hai chức vô địch Cúp FA.[118] Hai huấn luyện viên khác cũng đã được đưa vào Sảnh Danh vọng của câu lạc bộ: Major Frank BuckleyGraham Turner.[119][120] Turner giám sát hai chức vô địch hạng đấu liên tiếp vào cuối thập niên 1980, vô địch Fourth Division mùa giải 1987-88Third Division ở mùa giải tiếp theo. Bill McGarryJohn Barnwell đều giành League Cup cho Wolves trong các thập niên 1970 và 1980.[117]

Trong thế kỉ 21, Dave Jones, Mick McCarthyNuno Espírito Santo đã đưa câu lạc bộ lên Premier League. Kenny Jackett đã giúp Wolves đạt mốc điểm kỉ lục 103 tại EFL League One (cấp độ 3) khi họ vô địch hạng đấu này ở mùa giải 2013-14.

Ståle Solbakken trở thành huấn luyện viên nước ngoài đầu tiên của Wolves dưới quyền sở hữu của Steve Morgan, sau đó là Walter Zenga, hai huấn luyện viên người Bồ Đào Nha Nuno Espírito SantoBruno Lage, cùng Julen Lopetegui, người là huấn luyện viên người Tây Ban Nha, dưới thời các ông chủ hiện tại là Fosun.

Wolves cũng từng được dẫn dắt bởi hai cựu huấn luyện viên đội tuyển AnhGraham TaylorGlenn Hoddle.[117]

Cổ động viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài việc có nhiều hội cổ động viên trên khắp Vương quốc Liên hiệp Anh,[121][122][123][124][125][126][127] Wolverhampton Wanderers cũng có một lực lượng cổ động viên quốc tế, với các hội cổ động viên ở Australia,[128] Hoa Kì,[129] Thụy Điển,[130] Tây Ban Nha, Đức,[131] Cộng hòa Ireland,[132] Malta,[133] Iceland và Na Uy[134] cùng nhiều nơi khác. Họ có một lực lượng cổ động viên Scandinavia đặc biệt đông đảo, do khu vực này có truyền hình các trận bóng của Midlands trong thập niên 1970 khi câu lạc bộ là một đội quen thuộc ở hạng đấu cao nhất; trận đấu Anh đầu tiên được truyền hình trực tiếp đồng thời tại cả Thụy Điển và Na Uy có sự góp mặt của Wolves (Wolverhampton Wanderers thắng Sunderland 1-0 ở mùa giải 1969-70 vào thứ Bảy, ngày 29 tháng 11 năm 1969).[135][136]

Kình địch

[sửa | sửa mã nguồn]

Mối kình địch lâu đời nhất và mạnh nhất của Wolves là với West Bromwich Albion, đối thủ mà câu lạc bộ chạm trán trong trận Black Country derby. Hai câu lạc bộ, cách nhau mười một dặm, đã gặp nhau 163 lần;[137] trong đó Baggies thắng 65 trận, Wolves thắng 54 trận và 44 trận kết thúc với tỉ số hòa. Lần chạm trán chính thức đầu tiên của họ là một trận Cúp FA vào năm 1886.[137] Một khảo sát toàn quốc của football pools xác định đây là mối kình địch mạnh nhất trong bóng đá Anh.[138] Cả hai câu lạc bộ đều là thành viên sáng lập của Football League và đôi bên từng cạnh tranh chức vô địch quốc gia ở mùa giải 1953-54, với Wolves là đội đăng quang.[139]

Wolves cũng có mối kình địch với hai đội bóng của Birmingham là Aston VillaBirmingham City, những đối thủ mà họ đã gặp rất nhiều lần kể từ thế kỉ 19.[140][141] Đối thủ gần nhất về mặt địa lí của Wolves thực ra là Walsall, nhưng do hai đội hiếm khi thi đấu cùng cấp độ,[142] nên điều này ít quan trọng hơn. Do Wolverhampton trong lịch sử từng nằm trong ranh giới của Staffordshire, một trận derby Staffordshire giữa Wolves và Stoke City cũng được thừa nhận.

Mùa giải Premier League 2018-19 là lần đầu tiên và cũng là duy nhất mà Wolves là đại diện duy nhất của West Midlands tại hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Mùa giải Premier League 2020-21 chứng kiến Wolves thi đấu với cả Aston Villa lẫn West Bromwich Albion.[143] Kể từ khi Albion xuống hạng vào cuối mùa giải đó, Aston Villa là đối thủ West Midlands duy nhất của Wolves tại Premier League.

Văn hóa cổ động viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn đỉnh cao của câu lạc bộ ở thập niên 1950, ca khúc đặc trưng của khán giả sân nhà là "The Happy Wanderer", ca khúc từng đứng hạng trên bảng xếp hạng tại Vương quốc Liên hiệp Anh vào năm 1954 khi Wolves lần đầu tiên vô địch quốc gia.[144] Trong những năm gần đây, "Hi Ho Silver Lining" – một ca khúc rock năm 1967 của Jeff Beck với phần điệp khúc được sửa thành "Hi Ho Wolverhampton!" – đã trở thành một phần quen thuộc trong các trận sân nhà.[145] Bản nhạc không lời "The Liquidator" của Harry J. Allstars cũng từng được sử dụng phổ biến tại sân vận động cho đến khi có yêu cầu từ West Midlands Police đề nghị ngừng sử dụng vì lo ngại rằng những lời tục tĩu mà một số cổ động viên hô theo trong đoạn điệp khúc có thể kích động rắc rối.[146][147]

Câu lạc bộ đã thu hút một số nhóm hooligan trong thập niên 1960. Trong giai đoạn cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, một hooligan firm mang tên "The Subway Army" thường phục kích cổ động viên trong đường chui liền kề sân vận động. Nhóm này dần bị triệt phá và hầu như không còn tồn tại do số lượng lớn các vụ bắt giữ – nhiều vụ là một phần của chiến dịch toàn quốc của cảnh sát mang tên "Operation GROWTH" (hoặc "Get Rid of Wolverhampton's Troublesome Hooligans") vào cuối thập niên 1980.[148]

Câu lạc bộ khuyến khích sự tương tác với người hâm mộ và có một Nghị viện Cổ động viên, nơi các ứng viên được lựa chọn độc lập gặp gỡ quan chức câu lạc bộ để thảo luận những vấn đề liên quan tới câu lạc bộ.[149] Một fanzine độc lập mang tên "A Load of Bull" (ALOB), một phần là cách nhắc tới chân sút hàng đầu Steve Bull, đã đăng tải quan điểm của người hâm mộ từ năm 1989 đến năm 2012.[150][151]

Quyền sở hữu và tài chính

[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ thuộc sở hữu của tập đoàn đa ngành Trung Quốc Fosun International, tập đoàn đã mua công ty mẹ của câu lạc bộ là W.W. (1990) Ltd. vào ngày 21 tháng 7 năm 2016 với giá được cho là 45 triệu bảng Anh từ chủ sở hữu trước đó Steve Morgan và công ty Bridgemere Group của ông.[152][153] Trong báo cáo tài chính được công bố gần nhất của công ty mẹ tập đoàn Wolves (bao quát mùa giải Premier League 2018-19), lợi nhuận trước thuế ghi nhận ở mức chỉ dưới 20 triệu bảng Anh, trong khi doanh thu của năm đó đạt 172,5 triệu bảng Anh. 92,1 triệu bảng Anh đã được chi cho lương nhân sự và các chi phí liên quan.[154][155]

Giống như hầu hết các câu lạc bộ bóng đá, nguồn thu thương mại đáng kể được tạo ra từ các hợp đồng tài trợ áo đấu.[156] Các hợp đồng tài trợ áo đấu trước đây như sau: Tatung (1982-86), Benjamin Perry (1986), Staw Distribution (1986-88), Manders Paint & Ink (1988-90), Goodyear (1990-2002), Doritos (2002-04), Chaucer Consulting (2004-09), Sportingbet (2009-13), What House? (2013-15), Silverbug (2015-16), The Money Shop (2016-18), W88 (2018-19).[157] ManBetX (2019-2022), AstroPay (2022-2024)[158] và DEBET (2024-).[159]

Fosun mua Wolves từ Steve Morgan, người đã tiếp quản vào tháng 8 năm 2007 với khoản tiền danh nghĩa là 10 bảng Anh kèm điều kiện phải bơm thêm 30 triệu bảng Anh vào câu lạc bộ,[38] qua đó chấm dứt hành trình tìm kiếm chủ sở hữu mới kéo dài gần bốn năm.[160] Morgan điều hành trong chín mùa giải trọn vẹn, nhưng đã đưa câu lạc bộ ra thị trường để tìm chủ mới vào tháng 9 năm 2015.[161] Morgan đã mua câu lạc bộ từ Sir Jack Hayward, một cổ động viên trọn đời của câu lạc bộ, người từng mua nó vào năm 1990 với giá 2,1 triệu bảng Anh.[35][162] Trong thời gian nắm quyền, Sir Jack đã đầu tư ước tính 50 triệu bảng Anh từ tài sản cá nhân của mình để xây lại sân vận động của câu lạc bộ và tài trợ cho các cầu thủ mới, nhưng đội bóng dù vậy chỉ có đúng một mùa giải ở hạng đấu cao nhất trong suốt 17 năm ông điều hành, bất chấp năng lực chi tiêu gia tăng đó.[162][163]

Việc Hayward tiếp quản đã cải thiện rất nhiều sức khỏe tài chính của câu lạc bộ, sau một thập niên 1980 đầy biến động trong đó câu lạc bộ hai lần bị tuyên bố phá sản.[28][33] Năm 1982, câu lạc bộ được "cứu" khỏi nguy cơ thanh lí khi được hai anh em người Saudi là Mahmud và Mohammad Bhatti mua lại, במסגרת công ty Allied Properties của họ.[28] Tuy nhiên, việc họ không đầu tư đủ cho câu lạc bộ khiến đội bóng phải đối mặt với nhiều lệnh yêu cầu giải thể cũng như những lần xuống hạng liên tiếp qua các cấp độ của bóng đá Anh.[30][31][32] Năm 1986, người quản lí tài sản chính thức một lần nữa được chỉ định và cuối cùng một thỏa thuận đã được môi giới để Wolverhampton City Council mua lại sân vận động của câu lạc bộ với giá 1,12 triệu bảng Anh, cùng khu đất xung quanh, trong khi một nhà phát triển địa phương là Gallagher Estates, kết hợp với chuỗi siêu thị Asda, đồng ý thanh toán các khoản nợ tồn đọng của câu lạc bộ để đổi lấy việc xây dựng một siêu thị Asda trên khu đất sát cạnh sân vận động.[5][33][81]

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bảng xếp hạng mọi thời đại kể từ khi giải vô địch quốc gia ra đời vào năm 1888, Wolves đứng thứ tư về số điểm giành được ở mọi hạng đấu (tính đến khi kết thúc mùa giải 2018-19), chỉ sau Manchester United, Liverpool và Arsenal về tổng số điểm tích lũy.[164] Wolves là đội đầu tiên vô địch cả bốn hạng đấu của bóng đá chuyên nghiệp Anh và đã vô địch mọi giải đấu hiện đang được tổ chức trong hệ thống bóng đá quốc nội Anh.[165]

Giải vô địch quốc gia

Cúp

Kỉ lục và thống kê

[sửa | sửa mã nguồn]

Kỉ lục cá nhân

[sửa | sửa mã nguồn]

Derek Parkin giữ kỉ lục ra sân nhiều nhất cho đội một, với 609 trận (trong đó có 501 trận thuộc giải vô địch quốc gia).[5] Cầu thủ ghi nhiều bàn nhất là Steve Bull với 306 bàn (bao gồm 250 bàn tại giải vô địch quốc gia – trong đó có kỉ lục 52 bàn trong một mùa giải).[5] Billy Wright là cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất của Wolves, với 105 lần ra sân cho đội tuyển Anh trong thời gian còn thuộc câu lạc bộ.[5] Được chiêu mộ vào tháng 8 năm 2022 với giá 38 triệu bảng Anh, Matheus Nunes trở thành bản hợp đồng đắt giá nhất lịch sử Wolves,[166] đồng thời trở thành thương vụ bán kỉ lục của Wolves khi được bán cho Manchester City với giá 53 triệu bảng Anh vào tháng 9 năm 2023.[167]

Kỉ lục đội bóng

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Chiến thắng đậm nhất: 14-0 trước Crosswell's Brewery, vòng Hai Cúp FA, ngày 13 tháng 11 năm 1886[168]
  • Thất bại đậm nhất: 1-10 trước Newton Heath, Division 1 mùa giải 1973-74, ngày 15 tháng 10 năm 1892[168]
  • Số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải tại giải vô địch quốc gia: 115 (Division 2; 1931-32)[168]
  • Lượng khán giả sân nhà cao nhất: 61.315 trước Liverpool, vòng Bốn Cúp FA, ngày 11 tháng 2 năm 1939[5]

Lịch sử giải đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Wolverhampton Wanderers là thành viên sáng lập của Football League vào năm 1888. Mùa giải 2024-25 là mùa giải thứ 126 của Wolves trong hệ thống Football League. Wolves đã trải qua 119 trong tổng số 125 mùa giải hoàn tất của mình cho đến nay ở hai hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Wolves đã chơi ở hạng Ba trong bốn dịp, mỗi dịp chỉ kéo dài một mùa giải; ba trong số những mùa giải đó kết thúc bằng việc thăng hạng trở lại hạng Hai với tư cách nhà vô địch, còn một mùa giải kết thúc bằng việc xuống hạng xuống hạng Tư. Câu lạc bộ đã chơi hai mùa giải ở hạng Tư của Anh (trong thập niên 1980).

  • Số mùa giải ở Cấp 1 của hệ thống giải bóng đá: 70 (bao gồm 2024-25)
  • Số mùa giải ở Cấp 2 của hệ thống giải bóng đá: 50
  • Số mùa giải ở Cấp 3 của hệ thống giải bóng đá: 4
  • Số mùa giải ở Cấp 4 của hệ thống giải bóng đá: 2
  • Chuỗi mùa giải liên tiếp dài nhất ở Cấp 1: 26 (1932-1965; bóng đá vô địch quốc gia bị gián đoạn 1939-46 do Chiến tranh thế giới thứ hai)
  • Chuỗi mùa giải liên tiếp dài nhất ở Cấp 2: 14 (1989-2003)
  • Chuỗi mùa giải liên tiếp dài nhất ở Cấp 3: 1 (1923-24; 1985-86; 1988-89; 2013-14)
  • Chuỗi mùa giải liên tiếp dài nhất ở Cấp 4: 2 (1986-1988)
  1. Công ty mẹ trực tiếp của câu lạc bộ là W.W. (1990) Limited, được Prestige Century Holdings Limited mua lại; Prestige Century là công ty con của Fosun Management Holdings Limited; Fosun Management Holdings là công ty con của Fosun International; Fosun International, một công ty niêm yết tại Hồng Kông, là công ty con của Fosun International Holdings, công ty do Guo Guangchang, Liang XinjunWang Qunbin nắm quyền sở hữu phần lớn

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 "History | The story of Wolverhampton Wanderers". Wolverhampton Wanderers F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2021.
  2. 1 2 "Premier League Handbook 2022/23" (PDF). Premier League. tr. 42. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2023.
  3. "Appointment of interim executive chairman". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 19 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2025.
  4. 1 2 Goldstein, Dan (editor). The Rough Guide to English Football (2000), page 582. Rough Guides Ltd.
  5. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Matthews, Tony (2008). Wolverhampton Wanderers: The Complete Record. Derby: Breedon Books. ISBN 978-1-85983-632-3.
  6. "The Father of The Football League". The Football League. ngày 27 tháng 2 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2013.
  7. "History of the Football League". The Football League. ngày 22 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2011.
  8. "The Cup Final: Today's prospects at Wembley". The Times. London. ngày 29 tháng 4 năm 1939. tr. 4.
  9. "FA Cup final upsets". ESPN. ngày 14 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013.
  10. "Seven Wembley upsets to give Stoke City hope as they start underdogs against Manchester City". The Daily Telegraph. ngày 12 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022.
  11. Matthews, Tony (1994). Wolves, The Complete Record, page 31. Breedon Books Publishing Company. ISBN 1859830005.
  12. "Monkey Glands – Major Frank Buckley took Wolves to 1930s prominence with dubious injections". www.theblizzard.co.uk. ngày 1 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017.
  13. "Billy wins his only League title in 1947". LFChistory.net. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013.
  14. Glanville, Brian (ngày 1 tháng 3 năm 2001). "Stan Cullis". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
  15. "Season 1949-50". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
  16. 1 2 "Wolves legend Cullis dies". BBC Sport. ngày 28 tháng 2 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2013.
  17. 1 2 Shipley, John (2003). Wolves Against the World. Stroud: The History Press. ISBN 0-7524-2947-7.
  18. "When Wolverhampton Wanderers invented European football". Birmingham Mail. ngày 13 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2018.
  19. 1 2 "Hats off to Hanot". UEFA. ngày 12 tháng 5 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2013.
  20. "Classic match report – Wolves 3 Real Madrid 2, 1957". Express and Star. ngày 16 tháng 2 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  21. 1 2 "Wolverhampton Wanderers FC - short history and facts". footballhistory.org. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2020.
  22. "USA, 1967: Life in the Fast Lane". Wolves Heroes. ngày 4 tháng 5 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013.
  23. "England 1970/71". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2020.
  24. "On this day: Wolves lose the first UEFA cup final". Express & Star. ngày 17 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2020.
  25. "Classic Match Manchester City 1 Wolves 2 League Cup Final March 2 1974". Express & Star. ngày 2 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2020.
  26. Pye, Steven (ngày 26 tháng 2 năm 2015). "The League Cup finals of the 1980s: from Wolves to Forest, via Norwich and Oxford". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2020.
  27. Matthews, Tony (1994). Wolves: The Complete Record. Breedon Books Publishing Company. tr. 73. ISBN 1-85983-000-5.
  28. 1 2 3 "Wolves are saved by last-minute deal". The Times. London. ngày 31 tháng 7 năm 1982. tr. 17.
  29. "Wolves 'will have to pay own way'". The Times. London. ngày 9 tháng 8 năm 1982. tr. 15.
  30. 1 2 "Wolves: What's gone wrong at Molineux?". BBC Sport. ngày 1 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  31. 1 2 "Wolves in new crisis". The Times. London. ngày 6 tháng 12 năm 1982. tr. 23.
  32. 1 2 "Wolves try to suspend winding-up order". The Times. London. ngày 30 tháng 7 năm 1985. tr. 25.
  33. 1 2 3 "Wolves in the clear". The Times. London. ngày 6 tháng 8 năm 1986. tr. 32.
  34. "Steve Bull". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 16 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016.
  35. 1 2 "Hayward pledge to restore the greatness of Wolves". The Times. London. ngày 11 tháng 5 năm 1990. tr. 43.
  36. "Hayward's dream come true". BBC Sport. ngày 27 tháng 5 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2013.
  37. ""Merlin" casts magical Molineux spell". BBC Sport. ngày 8 tháng 3 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2019.
  38. 1 2 "Businessman Morgan buys Wolves for £10". Reuters. ngày 21 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2020.
  39. "Wolves 1-0 QPR". BBC Sport. ngày 18 tháng 4 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013.
  40. "Wolves sack manager Mick McCarthy". BBC Sport. ngày 13 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  41. "Connor appointed to end of season". BBC Sport. ngày 24 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  42. "Wolves appoint Norwegian Stale Solbakken as new manager". BBC Sport. ngày 11 tháng 5 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  43. "Wolves sack manager Stale Solbakken after FA Cup exit". BBC Sport. ngày 5 tháng 1 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  44. "Dean Saunders: Wolves appoint Doncaster Rovers boss". BBC Sport. ngày 7 tháng 1 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  45. "Dean Saunders sacked after relegation to League One". BBC Sport. ngày 7 tháng 5 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  46. "Wolves chairman Steve Morgan says club have failed their city". BBC Sport. ngày 4 tháng 5 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  47. "Kenny Jackett: Wolves name ex-Millwall boss as head coach". BBC Sport. ngày 31 tháng 5 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  48. "Fosun Group takes over Wolves". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 21 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2016.
  49. "Wolves bought by Chinese conglomerate Fosun International for £45m". BBC Sport. ngày 21 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2017.
  50. "Kenny Jackett: Wolves sack head coach after three seasons in charge". BBC Sport. ngày 29 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  51. "Walter Zenga: Wolves name former Italy international as head coach". BBC Sport. ngày 30 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  52. "Paul Lambert: Wolves boss leaves Molineux after seven months in charge". BBC Sport. ngày 30 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  53. "Nuno Espirito Santo: Wolves appoint former Porto boss as head coach". BBC Sport. ngày 31 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  54. Edwards, Joe (ngày 6 tháng 5 năm 2019). "Confirmed: Wolves to finish seventh in the Premier League". Express & Star. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2019.
  55. "Wolverhampton Wanderers 0-1 Sevilla". BBC Sport. ngày 11 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2020.
  56. "Raul Jimenez: Wolves striker has surgery on fractured skull after David Luiz head clash". BBC Sport. ngày 30 tháng 11 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2021.
  57. Wolves [@Wolves] (ngày 21 tháng 5 năm 2021). "After four seasons at the club, this Sunday will be Nuno Espirito Santo's final game in charge of Wolves. Thank you, Nuno" (Tweet). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2021 qua Twitter.
  58. "Wolves: Bruno Lage appointed as manager". BBC Sport. ngày 9 tháng 6 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2021.
  59. "Wolves sack manager Lage following West Ham defeat". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2022.
  60. "Wolves part company with Lage". ngày 2 tháng 10 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  61. "Julen Lopetegui: Wolves appoint ex-Real Madrid and Sevilla manager". BBC Sport. ngày 5 tháng 11 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2022.
  62. Stone, Simon (ngày 24 tháng 5 năm 2023). "Julen Lopetegui: Wolves manager not asking for 'incredible signings' amid uncertain future". BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2023.
  63. "Gary O'Neil: Wolves name former Bournemouth boss as Julen Lopetegui successor". BBC Sport. ngày 9 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2023.
  64. Mashiter, Nick (ngày 19 tháng 12 năm 2024). "Struggling Wolves appoint ex-Porto boss Pereira". BBC Sport. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2024.
  65. "Wolves appoint Rob Edwards as manager after agreeing deal with Boro". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2025.
  66. "1984: Wolves' recurring nightmare". The Guardian. ngày 25 tháng 5 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016.
  67. "Wolverhampton Wanderers". The Beautiful History. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2013.
  68. 1 2 3 4 5 "Wolverhampton Wanderers – Historical Kits". Historicalkits.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009.
  69. The "old gold" colour was briefly revived during 2000-02.
  70. "Old gold turns to dross for Wolves". The Guardian. ngày 19 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016.
  71. "Old Gold Pennant". Daily Mirror. ngày 12 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2018.
  72. "Wolves club badge design court battle begins". BBC News. ngày 9 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2019.
  73. "Wolverhampton Wanderers badge copyright claim thrown out". BBC. ngày 15 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2019.
  74. 1 2 3 "Historical Kits – Wolverhampton Wanderers". historicalkits.co.uk. Historic Football Kits. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2025.
  75. "Wolves agree new kit deal with SUDU that puts club and fans first". Wolverhampton Wanderers Football Club. ngày 27 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2025.
  76. "DEBET become principal partner in record deal" (Thông cáo báo chí). Wolverhampton Wanderers Football Club. ngày 11 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2025.
  77. "Wolves join JD in partnership" (Thông cáo báo chí). Wolverhampton Wanderers Football Club. ngày 5 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2025.
  78. "Tributes paid to architect behind vision for Wolves' Molineux". Express & Star. ngày 12 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2017.
  79. "Stadium proposals". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 28 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2010.
  80. "Molineux - Archibald Leitch". molineuxstadiumthroughtheages.blogspot.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2018.
  81. 1 2 3 4 5 6 100 Years of Molineux 1889-1989: Special Souvenir Programme. Wolverhampton Wanderers F.C. 1989.
  82. "Launch of a golden vision at Molineux". Express & Star. ngày 10 tháng 2 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2018.
  83. "Football from top to bottom". The Independent. ngày 6 tháng 11 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2017.
  84. "Ground capacity raised". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 11 tháng 6 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2012.
  85. "Wolves unveil Molineux redevelopment plans". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 28 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2012.
  86. "Stan Cullis Stand official opening". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 24 tháng 8 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2017.
  87. "Wolves to postpone Steve Bull Stand redevelopment". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 19 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2012.
  88. "Revealed: Wolves' plan for huge South Bank". Express & Star. ngày 3 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2018.
  89. "Fans' Parliament minutes for tháng 2 năm 2019". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 15 tháng 2 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2019.
  90. "Wolves plan to extend Molineux stands in stadium vision". Shropshire Star. ngày 27 tháng 5 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020.
  91. "Team". Wolverhampton Wanderers F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2020.
  92. "Munetsi heads to Paris". Wolverhampton Wanderers. ngày 16 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2026.
  93. "Traore completes loan move". Wolverhampton Wanderers. ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2025.
  94. "Kalajdzic returns to Austria on loan". Wolverhampton Wanderers. ngày 5 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2025.
  95. "Doyle heads to Birmingham on loan". Wolverhampton Wanderers. ngày 2 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2025.
  96. "Hoever completes Championship move". Wolverhampton Wanderers. ngày 8 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2026.
  97. "Djiga joins Rangers on loan". Wolverhampton Wanderers. ngày 9 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2025.
  98. "Lonwijk signs new deal ahead of Luton loan". Wolverhampton Wanderers. ngày 10 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2025.
  99. "狼队官方:徐彬租借加盟英甲巴恩斯利;仍可代表狼队U21参赛". Dongqiudi (bằng tiếng Trung). ngày 6 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2026.
  100. "Academy seasons decided by PPG". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 7 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2020.
  101. 1 2 "Wolves in new Under-21 League". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 2 tháng 8 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2013.
  102. "Harriers and Wolves secure partnership". Kidderminster Harriers F.C. ngày 22 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2020.
  103. "Wolves Women History". Wolverhampton Wanderers F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2020.
  104. "Wolverhampton Wanderers". The Football Association. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2020.
  105. "Wolves Women fixtures revealed". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 26 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2020.
  106. "Football Staff". Wolverhampton Wanderers F.C. tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2017.
  107. "Directors' profiles". Wolverhampton Wanderers F.C. tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2017.
  108. "Fosun Group Takes Over Wolves". ngày 21 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2016.
  109. Doyle, Tom (tháng 1 năm 2010). "Artists of the century". Q. Số 282. tr. 88.
  110. "End of the Wright era". The Football Association. ngày 28 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2013.
  111. "Billy Wright". England Football Online. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2013.
  112. "Time to celebrate Bill Slater, a footballer with a unique British sporting history". Inside the Games. ngày 23 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2013.
  113. "Coady stars on England debut". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 9 tháng 9 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2020.
  114. "England Players' Club Affiliations: Wolverhampton Wanderers". England Football Online. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2013.
  115. "Wolves at the World Cup". wolves-stats.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  116. "Hall of Fame". Wolverhampton Wanderers F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013.
  117. 1 2 3 "Wolves: Manager history". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
  118. "Stan Cullis". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 16 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2013.
  119. "Hall of Fame Inductee Announcement". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 26 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2013.
  120. "Graham Turner". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 14 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2015.
  121. "London Wolves". London Wolves. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  122. "Sussex Wolves". Sussex Wolves. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2018.
  123. "Yorkshire Wolves". Yorkshire Wolves. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  124. "Telford Wolves". Telford Wolves. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2015.
  125. "Cannock Wolves". Cannock Wolves. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  126. "Daventry Wolves". Daventry Wolves. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  127. "Punjabi Wolves". Punjabi Wolves. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  128. "Melbourne Wolves". Melbourne Wolves. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2008.
  129. "American Wolves". American Wolves. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015.
  130. "Swede Wolves". Swede Wolves. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  131. "Berlin Wolves". Berlin Wolves. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2009.
  132. "Irish Wolves". Irish Wolves. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  133. "Malta Wolves". Malta Wolves. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  134. "Viking Wolves". Viking Wolves. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2002. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2009.
  135. "The English Occupation of Sweden; How We Came to Love Your Football". thefightingcock.co.uk. ngày 11 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  136. "Hugh've Been Framed!". wolvesheroes.com. ngày 29 tháng 11 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  137. 1 2 "Head to head: Wolverhampton Wanderers vs. West Bromwich Albion". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2024.
  138. "Rivalries League" (PDF). The New Football Pools. tháng 2 năm 2008. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  139. "When the Black Country rivals Wolves and West Bromwich Albion ruled English football". Birmingham Mail. ngày 9 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  140. "Head to head: Wolves v Aston Villa". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  141. "Head to head: Wolves v Birmingham City". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  142. "Head to head: Wolves v Walsall". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  143. "Rivalries renewed as long-awaited derbies return". Premier League. ngày 21 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
  144. "Official Singles Chart Top 12: 19-25 tháng 3 năm 1954". The Official UK Charts Company. ngày 30 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2019.
  145. "The Football Ground Guide: Molineux". The Football Ground Guide. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2013.
  146. "Can we play you every week?". BBC Sport. ngày 28 tháng 11 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2007.
  147. "Wolverhampton Council (Licensing and Environmental Protection Panel) Meeting" (PDF). Wolverhampton Council. ngày 21 tháng 5 năm 2003. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2008.
  148. Gary Armstrong and Dick Hobbs (1994). "Tackled from behind". Trong Richard Giulianotti, Norman Bonney and Mike Hepworth (biên tập). Football, Violence and Social Identity. London: Routledge. tr. 196–228. ISBN 0-415-09838-6.
  149. "Fans' Parliament". Wolverhampton Wanderers F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2020.
  150. "Fanzine Focus – A Load of Bull 1989-2012". Junk Archive blog. ngày 30 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  151. "A Load of Bull: End of an era". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 30 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2012.
  152. "Fosun Group takes over Wolves". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 21 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2016.
  153. "Wolves bought by Chinese conglomerate Fosun International for £45m". BBC Sport. ngày 21 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  154. Report and Financial Statements. W.W.(1990) Limited. ngày 31 tháng 5 năm 2019.
  155. "Headline financial information for 2018/19". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 18 tháng 2 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2020.
  156. Historicalkits.co.uk
  157. "Wolves announce W88 as shirt sponsor". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 13 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2019.
  158. "AstroPay announces new Premier League partnership with Wolverhampton Wanderers". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2023.
  159. "DEBET become principal partner in record deal". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 11 tháng 6 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025.
  160. "Hayward to quit Wolves". BBC Sport. ngày 26 tháng 9 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2013.
  161. "Club statement: Steve Morgan". Wolverhampton Wanderers F.C. ngày 28 tháng 9 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2015.
  162. 1 2 "Rich List Profiles: Sir Jack Hayward". Birmingham Post. ngày 23 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2013.
  163. "Hayward frees Wolves". The Guardian. ngày 21 tháng 5 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016.
  164. "England – Professional Football All-Time Tables". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2023.
  165. "Wolves: The only team to have won it all". The Guardian. ngày 9 tháng 8 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2020.
  166. "Matheus Nunes: Wolves sign Portugal midfielder for club record £38m fee". BBC Sport. ngày 18 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2023.
  167. "Manchester City sign Matheus Nunes from Wolves for £53m". BBC Sport. ngày 1 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2023.
  168. 1 2 3 "Wolverhampton Wanderers : Records". Statto.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Các trang web độc lập

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Bóng đá West Midlands