B.A.P
B.A.P 비에이피 | |
|---|---|
B.A.P tại vào năm 2024 Từ trái sang phải: Yongguk, Daehyun, Youngjae, Jongup | |
| Thông tin nghệ sĩ | |
| Nguyên quán | Seoul, Hàn Quốc |
| Thể loại | K-pop, Hip-hop, R&B, Rock |
| Năm hoạt động |
|
| Hãng đĩa | |
| Cựu thành viên | Yongguk Himchan Daehyun Youngjae Jongup Zelo |
| Website | Official website |
B.A.P (viết tắt của Best Absolute Perfect,[1] Hangul: 비에이피) là nhóm nhạc Hàn Quốc do công ty giải trí TS Entertainment thành lập, với đội hình ban đầu gồm các thành viên Yongguk, Himchan, Daehyun, Youngjae, Jongup và Zelo. B.A.P chính thức ra mắt với đĩa đơn "Warrior" vào ngày 26 tháng 1 năm 2012.
Vào tháng 11 năm 2014, cả nhóm cùng nhau đệ đơn kiện TS Entertainment để hủy bỏ hợp đồng độc quyền. Đến ngày 1 tháng 8 năm 2015, các thành viên đạt được thỏa thuận với TS Entertainment và trở lại công ty.
B.A.P lặng lẽ tan rã vào năm 2019 sau khi sáu thành viên lần lượt hết hạn hợp đồng. TS Entertainment vẫn giữ quyền sở hữu thương hiệu B.A.P.
Nhóm hợp tác với MA Entertainment phát hành đĩa mở rộng (EP) Curtain Call dưới tên Bang & Jung & Yoo & Moon vào tháng 8 năm 2024. Zelo không tham gia lần tái hợp này vì đang thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]2011: Trước khi ra mắt
[sửa | sửa mã nguồn]Bang Yong-guk là một nghệ sĩ underground trước khi vào công ty TS Entertainment. Anh được các thành viên Nine Muses mời về làm thực tập sinh. Vào ngày 3 tháng 3 năm 2011 anh đã kết hợp với nữ ca sĩ Song Ji-eun trong bài hát "Going Crazy". Anh cũng đã thực hiện một solo đầu tay vào ngày 11 tháng 8 năm 2011, với ca khúc "I Remember" được kết hợp với B2ST's Yang Yo-seob. Him Chan đã từng là Ulzzang am hiểu nhạc cụ truyền thống Hàn Quốc, là thành viên thứ hai của B.A.P ra mắt là một MC cho chương trình MTV The Show của đài SBS. Cuối cùng ngày 23 tháng 11 năm 2011, Zelo là thành viên thứ 3 được chính thức ra mắt kết hợp cùng Bang Yong Guk với tên gọi "Bang&Zelo" và phát hành "Never Give Up".
2012: Warrior, Power, No Mercy, Crash và Stop It
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 1 năm 2012, cả nhóm thực hiện một chương trình thực tế mang tên Ta-dah It's B.A.P, được phát sóng trên kênh SBS MTV. Chương trình tập trung vào cách cả sáu thành viên đóng vai những người ngoài hành tinh đến từ nơi khác cùng làm việc với nhau để ra mắt nhóm B.A.P và thực hiện mục tiêu chinh phục Trái Đất để cứu hành tinh đang chết dần của họ, hành tinh Mato.[2] B.A.P chính thức ra mắt với đĩa đơn có tựa đề "Warrior" vào ngày 26 tháng 1.[3]

2013: One Shot và ra mắt tại Nhật Bản
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 2 năm 2013, nhóm bắt đầu phát hành các thông tin từ EP thứ năm, One Shot. Ngày 21 tháng 2 năm 2013, EP xếp hạng số 1 trên bảng xếp hạng thế giới Albums của Billboard.
Trong tháng, King Records, một hãng thu âm Nhật Bản đã ký hợp đồng với B.A.P. Họ phát hành MV tiếng Nhật đầu tiên, "Warrior", trên YouTube vào ngày 13 Tháng Chín năm 2013, album và đĩa đơn của họ đã được chính thức phát hành vào ngày 9 tháng 10.
Ngày 6 tháng 8, nhóm phát hành EP thứ sáu mang tên Badman.
2014–2015: First Sensibility, tour thế giới, BAP Unplugged 2014, và vụ kiện
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 3 Tháng 2 năm 2014, BAP phát hành album đầy đủ đầu tiên của họ First Sensibility, có chứa tổng cộng mười ba bài hát bao gồm ca khúc chủ đề "1004 (Angel)".
Vào ngày 3 tháng 4, BAP phát hành single tiếng Nhật thứ ba của họ, "No Mercy", và được xếp hạng ở vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng hàng ngày và đĩa đơn hàng tuần của Oricon.
Sau "1004 (Angel)", nhóm bắt đầu BAP Live On Earth 2014 Continent Tour, với concert hai ngày tại Seoul, với khán giả ước tính khoảng 20.000 người tham dự, Đây là buổi biểu diễn solo thứ hai của họ tại Hàn Quốc. Nhóm tiếp tục giữ tổng cộng 23 buổi biểu diễn tại các thành phố trên khắp Hoa Kỳ, châu Á, Úc và châu Âu trong tour diễn.
Vào ngày 11, họ phát hành single tiếng Nhật thứ tư của họ "Excuse me". Ngày 27 tháng 10, TS Entertainment đã thông báo rằng họ đã hủy bỏ các phần Nam Mỹ của tour diễn, để cung cấp cho các thành viên trong nhóm thời gian để nghỉ ngơi.
Vào ngày 26 tháng 11, cả nhóm đã đệ đơn kiện TS Entertainment để vô hiệu hóa hợp đồng độc quyền.[4]
Đến ngày 1 tháng 8 năm 2015, BAP trở về TS Entertainment sau khi hai bên đạt được thỏa thuận. Họ đã trở lại với EP thứ tám, Matrix và ca khúc chủ đề "Young, Wild & Free". Showcase miễn phí "BAP 151.115" được tổ chức vào ngày 15 tháng 11 tại Dongdaemun Design Plaza.
2016–2019
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 22 tháng 2 năm 2016, nhóm phát hành EP thứ chín, Carnival. Nó có sáu bài hát với một khái niệm lạc quan tươi sáng trong tương phản với khái niệm đậm thể hiện trong Matrix.

Họ phát hành album tiếng Nhật đầu tiên, Best.Absolute.Perfect vào ngày 30 tháng 3. Album có mười ba ca khúc, trong đó có ba "New World", "Kingdom", và "Back In Time") là những bài hát gốc tiếng Nhật.
Giữa tháng Tư-tháng bảy, BAP tổ chức ngày trên toàn thế giới cho Live On Earth 2016 tour du lịch, bao gồm cả ngày ở Mỹ, Canada, Mexico, Brazil, Ý, Phần Lan, Đức, Ba Lan, Úc, Anh, và Nga
Yongguk và Zelo lần lượt kết thúc hợp đồng độc quyền với TS Entertainment vào ngày 19 tháng 8 và ngày 24 tháng 12 năm 2018.[5] Himchan, Daehyun, Youngjae và Jongup hết hạn hợp đồng vào ngày 18 tháng 2 năm 2019. Nhóm lặng lẽ tan rã và TS Entertainment vẫn giữ quyền sở hữu thương hiệu B.A.P.[6]
2024: Tái hợp
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 12 tháng 6 năm 2024, B.A.P bất ngờ tung một đoạn teaser cho bộ phim tài liệu mang tên Man on the Moon với sự tham gia của bốn thành viên Yongguk, Jongup, Daehyun và Youngjae, trong đó họ đã thông báo kế hoạch tái hợp và phát hành nhạc mới.[7] Thông tin này được MA Entertainment xác nhận vào ngày 2 tháng 7.[8] Họ chính thức phát hành EP Curtain Call vào ngày 8 tháng 8 và quảng bá với tên gọi Bang & Jung & Yoo & Moon. Thành viên Zelo vắng mặt do đang thực hiện nghĩa vụ quân sự.[9][10] Himchan trước đó đã tạm ngừng hoạt động do bị kết án về tội tấn công tình dục.[11]
Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 9 năm 2025, Daehyun chia sẻ rằng các thành viên sẽ quay trở lại với hoạt động cá nhân và việc tái hợp sẽ gặp những khó khăn nhất định do vấn đề hợp đồng riêng của từng người.[12]
Thành viên
[sửa | sửa mã nguồn]| Nghệ danh | Tên thật | Ngày sinh | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Latinh | Hangul | Latinh | Hangul | Hanja | Hán - Việt | |
| Bang Yongguk | 방용국 | Bang Yong-guk | 방용국 | 方容國 | Phương Dung Quốc | 31 tháng 3, 1990 |
| Himchan | 힘찬 | Kim Him-chan | 김힘찬 | 金力燦 | Kim Lực Xán | 19 tháng 4, 1990 |
| Daehyun | 대현 | Jung Dae-hyeon | 정대현 | 鄭大賢 | Trịnh Đại Hiền | 28 tháng 6, 1993 |
| Youngjae | 영재 | Yoo Young-jae | 유영재 | 劉永才 | Lưu Vĩnh Tài | 24 tháng 1, 1994 |
| Jongup | 종업 | Moon Jong-up | 문종업 | 文鐘業 | Văn Chung Nghiệp | 6 tháng 2, 1995 |
| Zelo | 젤로 | Choi Jun-hong | 최준홍 | 崔準烘 | Thôi Chuẩn Hồng | 15 tháng 10, 1996 |
Danh sách đĩa nhạc
[sửa | sửa mã nguồn]Album phòng thu
[sửa | sửa mã nguồn]
Hàn
|
Nhật
|
EP
[sửa | sửa mã nguồn]- No Mercy (2012)
- One Shot (2013)
- Badman (2013)
- Matrix (2015)
- Carnival (2016)
- Curtain Call (2024)
Danh sách chương trình
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Chương trình | Ghi chú |
|---|---|---|
| 2012 | Ta-Dah! It's B.A.P | 10 tập |
| B.A.P Diary | 2 tập | |
| Killing Camp | 3 tập | |
| 2014 | B.A.P Attack! | 13 tập (Live On Earth 2014 Continent Tour) |
| 2016 | B.A.P's One Fine Day | 8 tập |
| 2018 | Untact Life | 4 tập |
Lưu diễn
[sửa | sửa mã nguồn]- Live on Earth 2013 (2013)
- 1st Japan Tour Warrior Begins (2013)
- Live on Earth 2014 Continent Tour (2014)
- Live on Earth 2016 World Tour (2016)[13]
- 2nd Japan Tour Be.Act.Play (2017)
- 2017 World Tour Party Baby! (2017)
- 3rd Japan Tour Massive (2018)
- 2018 Live Limited (2018)
- Forever Tour (2018)
Giải thưởng và đề cử
[sửa | sửa mã nguồn]| Giải thưởng | Năm | Hạng mục | Đề cử | Kết quả | TK |
|---|---|---|---|---|---|
| Asia Artist Awards | 2016 | Best Entertainer Award (Male Group Category) | B.A.P | Đoạt giải | |
| Creative Brand Awards | 2013 | Entertainment Award | Đoạt giải | ||
| Gaon Chart Music Awards | 2012 | Best Male Rookie | Đoạt giải | ||
| 2013 | World Rookie | Đoạt giải | |||
| 2015 | Hot Trend Award | Đoạt giải | |||
| Golden Disc Awards | 2012 | Popularity Award | Đề cử | ||
| New Artist Award (Digital) | Đoạt giải | ||||
| Single Album Award | Đề cử | ||||
| 2013 | Digital Bonsang | "Badman" | Đề cử | ||
| Popularity Award | B.A.P | Đề cử | |||
| Giải thưởng Đĩa vàng Nhật Bản | 2014 | Nghệ sĩ mới của năm, hạng mục châu Á | B.A.P | Đoạt giải | [14] |
| J-pop Asia Music Awards | 2012 | New Artist/Band of 2012 | Đoạt giải | ||
| Most Promising Artist/Band | Đoạt giải | ||||
| Korean Cultural Entertainment Grant Prize | 2017 | K-Pop Star Award | Đoạt giải | ||
| Melon Music Awards | 2012 | Best New Male Artist | Đoạt giải | ||
| Mnet Asian Music Awards | 2012 | Mnet PD's Choice Award | Đoạt giải | ||
| Best New Male Artist | Đề cử | ||||
| Artist of the Year | Đề cử | ||||
| MTV Europe Music Awards | 2013 | Best Korean Act | Đề cử | ||
| 2014 | Best Korean Act | Đoạt giải | |||
| Best Japan and Korea Act | Đoạt giải | ||||
| Best Worldwide Act | Đề cử | ||||
| 2016 | Best Korean Act | Đoạt giải | |||
| Giải thưởng Âm nhạc Seoul | 2012 | Best New Artist | Đoạt giải | ||
| 2013 | Bonsang Award | "One Shot" | Đoạt giải | [15] | |
| Popularity Award | B.A.P | Đề cử | |||
| So-Loved Awards[a] | 2012 | Best Male Rookie Artist | Đoạt giải | [17] | |
| Best Choreography | "Warrior" | Đoạt giải | |||
| 2013 | Best Male Group | B.A.P | Đoạt giải | [18] | |
| Best Dance – Male Artist | "One Shot" | Đoạt giải | |||
| Best Music Video | Đoạt giải | ||||
| 2014 | Best Male Group | B.A.P | Đoạt giải | [19] | |
| Album of the Year | First Sensibility | Đoạt giải | |||
| Best Music Video | "1004" | Đoạt giải | |||
| Soribada Best K-Music Awards | 2017 | Bonsang Award | B.A.P | Đoạt giải | [20] |
| V Chart Awards | 2013 | Best New Artist | Đoạt giải |
Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Lee, Tiffanie. "B.A.P - Club Nokia - 5-7-13". LA Weekly. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013.
- ↑ Hong, Lucia (ngày 26 tháng 1 năm 2012). "New boy band B.A.P's debut documentary to air in 8 Asian countries" (bằng tiếng Anh). 10asiae. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2012.
- ↑ "2012-01-25" 2012년 빛낼 아이돌 출격 임박..'신고 합니다!' [Những thần tượng được dự đoán sẽ tỏa sáng trong năm 2012 sắp ra mắt.. 'Báo cáo đã có mặt!'] (bằng tiếng Hàn). Star News. ngày 25 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012.
- ↑ Lee Young-gi (ngày 27 tháng 11 năm 2014). "[단독] B.A.P 멤버 전원, 소속사 상대 '노예계약' 소송 제기" [[Độc quyền] Toàn bộ thành viên của B.A.P đệ đơn kiện công ty quản lý vì 'hợp đồng nô lệ']. Xportsnews (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "TS 측 "젤로 전속계약 종료, B.A.P 탈퇴 합의"(공식입장 전문)" [Công ty quản lý TS: ""Hợp đồng độc quyền của Zelo đã kết thúc, đạt được thỏa thuận rút khỏi B.A.P" (Thông cáo đầy đủ)]. Newsen (bằng tiếng Hàn). ngày 24 tháng 12 năm 2018 – qua Nate.
- ↑ "TS 측 "B.A.P 힘찬 대현 영재 종업과 전속계약 만료, 재계약 NO"(공식입장)" [Công ty quản lý TS: "Hợp đồng độc quyền với Himchan, Daehyun, Youngjae và Jongup của nhóm B.A.P đã kết thúc, không gia hạn" (Thông cáo)]. Newsen (bằng tiếng Hàn). ngày 18 tháng 2 năm 2019 – qua Naver.
- ↑ Chin, Carmen (ngày 13 tháng 6 năm 2024). "B.A.P announce reunion and new music in new documentary teaser". NME (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "B.A.P to return with 4 members in August". ngày 2 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "4인조 B.A.P 가시화…방용국·정대현·유영재·문종업, 내달 컴백". Newsis (bằng tiếng Hàn). ngày 5 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2026.
- ↑ Lee Jung-youn (ngày 11 tháng 8 năm 2024). "Disbanded B.A.P members return to fans after 6 years". The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2026.
- ↑ Lee Gyu-lee (ngày 24 tháng 2 năm 2021). "B.A.P Himchan sentenced to 10 months in prison for sexual assault". The Korea Times. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "정대현 "B.A.P 방용국·유영재, 음방 놀러와…방정유문 컴백 기회 열려 있다" [인터뷰 스포]". Sports Today (bằng tiếng Hàn). ngày 9 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "B.A.P, 5대륙 15개국 30회 월드투어 개최 (bằng tiếng Hàn). Naver. ngày 10 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2026.
- ↑ AKB48、ゴールドディスク大賞初のV3「とてもうれしく光栄」 [AKB48, nghệ sĩ đầu tiên lập hat-trick tại Giải thưởng Đĩa vàng: "Chúng tôi rất vui mừng và vinh dự"] (bằng tiếng Nhật). Oricon News. ngày 27 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2026.
- ↑ Park Mi-ae (ngày 22 tháng 1 năm 2015). "[24th 서울가요대상]엑소, 2년 연속 대상 수상...역시 대세" [[Giải thưởng Âm nhạc Seoul lần thứ 24] EXO giành Daesang năm thứ hai liên tiếp... Quả là nhóm dẫn đầu xu hướng] (bằng tiếng Hàn). E Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2022 – qua Naver.
- ↑ "So-Loved Awards 2013". Korea Foundation for International Culture Exchange (bằng tiếng Hàn). ngày 17 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2022.
- ↑ Gil Hye-seong (ngày 10 tháng 12 năm 2012). "빅뱅·2NE1, 유럽K팝어워즈 남녀그룹상..B.A.P, 신인상" [BIGBANG, 2NE1 giành giải Nhóm nam và Nhóm nữ xuất sắc tại giải thưởng K-pop châu Âu... B.A.P, giải Nghệ sĩ mới] (bằng tiếng Hàn). Star News. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2022 – qua Naver.
- ↑ "So-Loved Awards 2013". Korea Foundation for International Culture Exchange (bằng tiếng Hàn). ngày 17 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "So-Loved Awards 2014". Korea Foundation for International Culture Exchange (bằng tiếng Hàn). ngày 1 tháng 12 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "'소리바다' 엑소, 韓최초 5년연속 대상..트와이스는 음원퀸[종합]". osen.mt.co.kr (bằng tiếng Hàn). Osen. ngày 20 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2017.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Official website Lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2013 tại Wayback Machine