close
Bước tới nội dung

Silkeborg IF

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Silkeborg
Tập tin:Silkeborg IF logo.svg
Tên đầy đủSilkeborg Idrætsforening
Tên ngắn gọnSIF
Thành lập1917; 109 năm trước (1917)
SânJYSK Park
Sức chứa10,000 (6,000 ghế ngồi)
Chủ sở hữuTrivela Group
Chủ tịch điều hànhKent Madsen
Huấn luyện viên trưởngMorten Dahm Kjærgaard
Giải đấuSuperliga
2025–26Superliga, thứ 9 trên 12
Websitewww.silkeborgif.com
Mùa giải hiện nay

Silkeborg Idrætsforening (phát âm [ˈse̝lkəˌpɒˀ ˈitʁætsfɒˌe̝ˀne̝ŋ]; thường được gọi là Silkeborg IF hoặc viết tắt là SIF) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Silkeborg, Đan Mạch. Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1917, vươn lên hạng đấu cao nhất của bóng đá Đan Mạch vào năm 1987 và sau đó trở thành một trong những câu lạc bộ bóng đá thành công nhất tại Đan Mạch. Đội từng vô địch Danish Superliga 1993–94, đứng thứ ba các mùa 1994–95, 2000–01 và 2021–22, đứng thứ hai mùa 1997–98, đồng thời vô địch Cúp bóng đá Đan Mạch vào các năm 20012024. Silkeborg đã nhiều lần tham dự các giải đấu châu Âu và giành UEFA Intertoto Cup năm 1996.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Được thành lập vào năm 1917, bộ phận bóng đá của Silkeborg IF thi đấu ở các hạng đấu cao nhất của Jutland cho đến một giai đoạn ngắn ở hạng ba vào năm 1962.[1] Tuy nhiên, vào năm 1966, đội được thăng lên hạng hai của bóng đá Đan Mạch. Năm 1982, câu lạc bộ thực hiện bước đi quyết định hướng tới bóng đá đỉnh cao Đan Mạch khi công ty SIF Football Support A/S được thành lập, một công ty chuyên nghiệp chịu trách nhiệm về bóng đá chuyên nghiệp tại Silkeborg. Điều này dẫn đến việc đội thăng lên hạng đấu cao nhất quốc gia, 1st Division, vào năm 1987. Đây là một bất ngờ lớn đối với hầu hết người hâm mộ bóng đá và một phóng viên của báo Đan Mạch Politiken viết: "Sẽ là một bất ngờ nếu Silkeborg giành được một quả phạt góc." Tuy nhiên, đội thi đấu tốt và ngay trong trận thứ ba của mùa giải, Silkeborg đánh bại đội bóng thống trị Đan Mạch khi đó là Brøndby với chiến thắng 1–0 trên sân nhà.

Chức vô địch năm 1994

[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều trận đấu quan trọng trong mùa giải 1993–94, nhưng có lẽ trận quan trọng nhất đối với Silkeborg là trận vòng ba của giải trên sân nhà trước Brøndby. Ngay trước trận đấu, ngôi sao lớn của đội là Jakob Kjeldberg đã được bán sang Chelsea,[2] và khi Brøndby dẫn trước 2–0 từ sớm, tình thế có vẻ rất khó khăn cho đội chủ nhà. Nhưng Silkeborg đã hoàn toàn lật ngược trận đấu và thắng 4–2 trước sự cổ vũ cuồng nhiệt của khán giả.[3] Trong phần còn lại của mùa thu, SIF trình diễn hết trận đấu hấp dẫn này đến trận đấu hấp dẫn khác. Đội chỉ thua 2 trong 18 trận và kết thúc giai đoạn mùa thu ở vị trí thứ nhất.

Vòng play-off diễn ra đầy kịch tính. Lối chơi vượt trội trong mùa thu được nối tiếp bằng phong cách thực dụng hơn. Trên sân khách, SIF phải nhận một vài thất bại nặng nề, nhưng ngược lại, Silkeborg Stadion là một pháo đài. Tại đây, SIF thắng sáu trong bảy trận và chỉ để thủng lưới một bàn. Ở vòng áp chót, SIF có thể bảo đảm chức vô địch nếu thắng sân khách trước đối thủ cạnh tranh duy nhất còn lại là Copenhagen. Cổ động viên Silkeborg đổ về sân vận động quốc gia Sân vận động Parken, nơi trận đấu được chứng kiến bởi lượng khán giả đông nhất trong lịch sử Danish Superliga, với 26,679 người.[4] Tuy nhiên, nhiều cổ động viên SIF có mặt trên sân đã chứng kiến SIF ghi bàn mở tỉ số nhưng cuối cùng thua 4–1.

Tình thế trước vòng cuối là SIF cần đạt kết quả tốt hơn Copenhagen để trở thành nhà vô địch. Trên sân nhà, SIF gặp AaB và thắng 2–0 nhờ hai bàn thắng của vua phá lưới Heine Fernandez. Tại Odense, OB vượt lên dẫn trước Copenhagen trong hiệp 2 và thắng 3–2 nhờ một bàn thắng ở thời gian bù giờ, qua đó giúp SIF giành chức vô địch.

Vô địch cúp năm 2001 và xuống hạng

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2001, Silkeborg vô địch Cúp bóng đá Đan Mạch 2000–01 với chiến thắng 4–1 trước đối thủ cùng giải AB. Bị dẫn 0–1 sau hiệp một, đội ghi 4 bàn trong hiệp hai nhờ công của Brian Pedersen, Thomas Poulsen và 2 bàn của Henrik Pedersen. Steven Lustü, người sau này trở thành một cầu thủ nổi bật của Silkeborg, đã chơi trọn trận cho AB. Kết quả những năm sau đó không mấy ấn tượng. Sau chức vô địch cúp, câu lạc bộ bán Henrik Pedersen cho Bolton Wanderers, Peter Kjær cho BeşiktaşThomas Røll cho Copenhagen. Đồng thời, Morten Bruun, cầu thủ có số lần ra sân nhiều nhất trong lịch sử câu lạc bộ, giải nghệ. Năm 2003, đội xuống 1st Division, nhưng trở lại Superliga vào năm sau. Trong hai mùa liên tiếp, đội đứng thứ tám trong giải đấu gồm 12 đội, nhưng đến năm 2007 đội lại xuống hạng. Tuy nhiên, khi cựu cầu thủ Troels Bech trở lại câu lạc bộ với tư cách huấn luyện viên trưởng vào năm 2009, ông đã cải tổ đội bóng và giúp câu lạc bộ thăng hạng. Silkeborg kết thúc mùa giải 2011 ở vị trí thứ năm, thành tích tốt nhất của họ trong 15 năm.

Chức vô địch 1st Division 2018–19

[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Danish 1st Division 2018–19, Silkeborg đăng quang vô địch First Division lần thứ ba, qua đó bảo đảm trở lại Danish Superliga ở mùa giải 2019–20 sau một năm vắng bóng.

Tiền đạo người Đan Mạch Ronnie Schwartz là cầu thủ ghi nhiều bàn nhất giải cho Silkeborg với 17 bàn ở giải vô địch; chia sẻ danh hiệu Chiếc giày vàng với Emil Nielsen của Roskilde.

Đội giành chức vô địch với 61 điểm, chỉ hơn đối thủ gần nhất Viborg 1 điểm, qua đó bảo đảm suất tự động trở lại Superliga.

Từ thăng hạng đến châu Âu

[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Silkeborg giành quyền thăng hạng lên Danish Superliga vào năm 2021, nhiều chuyên gia dự đoán câu lạc bộ sẽ tiếp tục thân phận đội bóng lên xuống và phải chiến đấu trụ hạng,[5] nhưng huấn luyện viên trưởng Kent Nielsen đã gây ấn tượng trong lần này ở hạng đấu cao nhất. Phong cách tấn công của ông, tập trung vào kiểm soát bóng và lối chuyền ngắn, giúp câu lạc bộ lần đầu tiên trong lịch sử gần đây giành quyền vào vòng play-off tranh chức vô địch.[6] Đặc biệt, bộ ba tấn công Nicolai Vallys, Sebastian JørgensenNicklas Helenius – thường được gọi là "VHS" – gây ấn tượng với nhiều bàn thắng và kiến tạo.[7][8]

Một trong những lý do thành công của Silkeborg được xem là khả năng giữ chân các cầu thủ chủ chốt trong kỳ nghỉ đông 2021–22, bất chấp sự quan tâm dành cho Tobias SalquistRasmus Carstensen.[9] Ở vòng play-off, Silkeborg đánh bại cả Copenhagen lẫn Brøndby theo cách lịch sử trong cùng một tuần.[10] Brøndby bị đánh bại 3–0 và Copenhagen, đội không thua tám trận trước đó, bị đánh bại 3–1. Cuối cùng, mùa giải khép lại ở vị trí thứ ba cùng những tấm huy chương đồng đầu tiên kể từ 2000–01,[11] khi Silkeborg được xem là đội bóng "giải trí" và "chơi hay" nhất Superliga.[12]

Do Nga xâm lược Ukraina 2022, tất cả các đội bóng Nga bị UEFA loại khỏi các giải đấu châu Âu.[13] Điều này đồng nghĩa đội vô địch Cúp bóng đá Đan Mạch được vào vòng loại cuối cùng của UEFA Europa League. Khi Midtjylland vô địch Cúp bóng đá Đan Mạch 2021–22, đồng thời đứng thứ hai tại Superliga, vị trí khi đó đem lại suất dự vòng loại UEFA Champions League, Silkeborg giành quyền dự Europa League nhờ vị trí thứ ba tại Superliga.[14]

Ngày 9 tháng 5 năm 2024, Silkeborg giành Cúp bóng đá Đan Mạch thứ hai, sau lần đầu vào năm 2001, với Oliver Sonne ghi bàn thắng duy nhất trong trận chung kết gặp AGF tại Sân vận động ParkenCopenhagen.[15]

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch

[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 19 tháng 5 năm 2026[16]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
2 HV Đan Mạch Andreas Poulsen
3 HV Na Uy Robin Østrøm
4 HV Bồ Đào Nha Pedro Ganchas
6 TV Thụy Điển Adam Wikman (mượn từ IK Sirius)
7 TV Đan Mạch Villads Westh
8 TV Đan Mạch Jeppe Andersen
9 Đan Mạch Alexander Simmelhack
10 Đan Mạch Younes Bakiz
11 Đan Mạch Oliver Ross
14 TV Đan Mạch Sofus Berger
15 HV Thụy Điển Melker Jonsson
16 TM Đan Mạch Bastian Holm
17 New Zealand Callum McCowatt
Số VT Quốc gia Cầu thủ
19 HV Đan Mạch Jens Martin Gammelby
20 TV Đan Mạch Mads Larsen
22 TV Thụy Điển Rami Al Hajj
23 Đan Mạch Tonni Adamsen
24 HV Đan Mạch Alexander Priesborg Madsen
25 HV Thụy Điển Pontus Rödin
26 TV Đan Mạch Mikkel Øxenberg
28 HV Đan Mạch Simon Stüker
30 TM Đan Mạch Aske Andrésen
33 TV Đan Mạch Mads Freundlich
36 TV Đan Mạch Julius Lorents
40 HV Đan Mạch Alexander Busch

Cầu thủ trẻ được sử dụng mùa 2025–26

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
27 TV Đan Mạch William Kirk
29 TV Đan Mạch Malthe Hansen
Số VT Quốc gia Cầu thủ
HV Đan Mạch David Stojanović

Cho mượn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
18 HV Đan Mạch Leonel Montano (tại HJK đến ngày 31 tháng 12 năm 2026)
35 Đan Mạch Sebastian Biller (tại Hødd đến ngày 31 tháng 12 năm 2026)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
41 TV Đan Mạch Oskar Boesen (tại Stabæk đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)

Nhân sự

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân sự ngoài cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]
Chức vụ Tên
Huấn luyện viên Đan Mạch Morten Dahm Kjærgaard
Trợ lý huấn luyện viên Đan Mạch Peder Knudsen
Huấn luyện viên thủ môn Đan Mạch Oliver Rosengren
Huấn luyện viên chuyển tiếp Đan Mạch Kim Leth Andersen
Huấn luyện viên thể lực Đan Mạch Rasmus Hansen
Chuyên viên vật lý trị liệu Đan Mạch Michael Larsen
Đan Mạch Mathias Ipsen
Nhân viên massage Đan Mạch Nina Schack
Bác sĩ Đan Mạch Kaspar Saxtrup
Trưởng đoàn Đan Mạch Kasper Jensen
Đan Mạch Flemming Møldrup
Giám đốc thể thao Đan Mạch Jesper Stücker

Cập nhật lần cuối: 11 tháng 6 năm 2026
Nguồn:

Lịch sử huấn luyện viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Silkeborg tại các giải đấu châu Âu

[sửa | sửa mã nguồn]
Mùa giải Cúp Vòng Đối thủ Sân nhà Sân khách Tổng tỉ số
1991 Intertoto Cup Bảng 4 Thụy Điển Hammarby IF 4–1 3–1 thứ 2
Đức Energie Cottbus 4–1 1–0
Tiệp Khắc Dukla Banksá Bystrica 1–3 0–2
1993 Intertoto Cup Bảng 6 Thụy Sĩ Zürich N/A 0–2 thứ 5
Đức VfL Bochum 2–2 N/A
Áo Tirol 1–1 N/A
Tiệp Khắc Slovan Bratislava N/A 1–2
1994 Intertoto Cup Bảng 1 Thụy Điển Halmstads BK N/A 0–2 thứ 5
Israel Maccabi Netanya 0–0 N/A
Séc Sparta Prague N/A 1–4
Bulgaria Lokomotiv Sofia 7–2 N/A
1994–95 Champions League 1Q Ukraina Dynamo Kyiv 0–0 1–3 1–3
1995–96 UEFA Cup 1Q Bắc Ireland Crusaders 4–0 1–2 5–2
2Q Séc Sparta Prague 1–2 0–1 1–3
1996 Intertoto Cup Bảng 4 Bỉ Sporting Charleroi N/A 4–2 thứ 1
Ba Lan Zagłębie Lubin 0–0 N/A
Áo SV Ried N/A 3–0
Wales Conwy United 3–0 N/A
BK Nga Uralmash 0–1 2–1 2–2 (a)
CK Croatia Segesta Sisak 0–1 2–1 2–2 (a)
1996–97 UEFA Cup Q Nga Spartak Moscow 1–2 2–3 3–5
1997 Intertoto Cup Bảng 2 Áo Grazer AK N/A 0–2 thứ 3
Croatia Hrvatski Dragovoljac 5–0 N/A
Pháp Bastia N/A 0–1
Wales Ebbw Vale 6–1 N/A
1998–99 UEFA Cup 1Q Slovenia Mura 2–0 0–0 2–0
R1 Ý Roma 0–2 0–1 0–3
2000 Intertoto Cup R1 Belarus Dnepr Mogilev 1–2 1–2 2–4
2001–02 UEFA Cup 1R Tây Ban Nha Real Zaragoza 1–2 0–3 1–5
2022–23 UEFA Europa League PO Phần Lan HJK 1–1 0–1 1–2
UEFA Europa Conference League Bảng B Bỉ Anderlecht 0–2 0–1 thứ 3
Anh West Ham United 2–3 0–1
România FCSB 5–0 5–0
2024–25 UEFA Europa League 2Q Na Uy Molde 3–2 1–3 4–5
UEFA Conference League 3Q Bỉ Gent 2–2 2–3 4–5
2025–26 UEFA Conference League 2Q Iceland KA 1–1 3–2 (s.h.p.) 4–3
3Q Ba Lan Jagiellonia Białystok 0–1 2–2 2–3

Cựu cầu thủ nổi bật

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi bàn nhiều nhất

[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ tính các trận đấu chính thức. Tính đến các trận diễn ra ngày 22 tháng 3 năm 2017.[17]

# Tên Sự nghiệp Bàn thắng
1Đan Mạch Henrik Pedersen1995–2001 và 2008–201296
2Đan Mạch Heine Fernandez1990–199896
3Đan Mạch Rajko Lekić2003–2004 và 2008–201176
4Quần đảo Faroe Christian Holst2008–201447
5Đan Mạch Jesper Thygesen1994–1998 và 2000–200345
6Đan Mạch Iddi Alkhag2001–200741
7Đan Mạch Michael Hansen1991–1996 và 2006–200739
8Đan Mạch Morten Bruun1988–200135
9Đan Mạch Ole Skov1988–199235
10Đan Mạch Nocko Joković1996–199933
11Đan Mạch Peter Lassen1999–200033
12Đan Mạch Allan Reese1991–199732
13Đan Mạch Hans Erfurt1987–199431
14Đức Marvin Pourie2011–201329
15Đan Mạch Jesper Bech2004–201428

Ra sân nhiều nhất

[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ tính các trận đấu chính thức. Tính đến các trận diễn ra ngày 22 tháng 3 năm 2017.[18]

# Tên Sự nghiệp Số lần ra sân
1Đan Mạch Morten Bruun1988–2001424
2Đan Mạch Bjarne Jensen348
3Đan Mạch Dennis Flinta2005–2007 và 2009–nay329
4Đan Mạch Ingvar Johansen1979–1993325
5Đan Mạch Arne Skovbo308
6Đan Mạch Kurt Nielsen307
7Đan Mạch Peter Kjær1993–2001291
8Đan Mạch Christian Duus1991–2005283
9Đan Mạch Henrik Pedersen1995–2001 và 2008–2012270
10Đan Mạch Michael Larsen1992–2003269
11Đan Mạch Thomas Poulsen1997–2006255
12Đan Mạch Brian Skaarup−1991254
13Đan Mạch Heine Fernandez1990–1998246
14Đan Mạch Jørgen Hansen245
15Đan Mạch Jesper Thygesen1994–1998 và 2000–2003245

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Historie og statistik" [lịch sử và thống kê] (bằng tiếng Đan Mạch). Silkeborg IF. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2026.
  2. 1993–1994 season Lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2016 tại Wayback Machine, Silkeborg IF theo từng năm, truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013.
  3. Superstats SIF-BIF 15.08.1993 Lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2016 tại Wayback Machine, SIF-BIF: 4–2, truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013.
  4. Superstats FCK-SIF 05.06.1994 Lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2016 tại Wayback Machine, FCK-SIF: 4–1, truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013.
  5. "Tipsbladet forudsiger SL: De bliver overraskelsen". Tipsbladet (bằng tiếng Đan Mạch). ngày 16 tháng 7 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2023.
  6. "Mesterskabsspillet tilrettelagt". Silkeborg IF (bằng tiếng Đan Mạch). ngày 20 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2023.
  7. Porse, Kristian (ngày 14 tháng 4 năm 2022). "Silkeborgs 'VHS' ødelagde FCK's flotte stime". bold.dk (bằng tiếng Đan Mạch). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2023.
  8. "KEP udnævner ny trio og sammenligner med verdensstjerner – Kent Nielsen langt fra imponeret". TV3 SPORT (bằng tiếng Đan Mạch). ngày 2 tháng 11 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2023.
  9. "Manglende profilsalg i januar viser Silkeborgs styrke". B.T. (bằng tiếng Đan Mạch). ngày 20 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2023.
  10. Porse, Kristian (ngày 14 tháng 4 năm 2022). "Silkeborg slog FCK: Tilbage i top 3-kampen nu". bold.dk (bằng tiếng Đan Mạch). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2023.
  11. Margren, Sara (ngày 15 tháng 5 năm 2022). "Silkeborg snupper bronze i Superligaen". bold.dk (bằng tiếng Đan Mạch). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2023.
  12. Jensen, Kenneth (ngày 7 tháng 2 năm 2022). "Alt om SIF: Stjernes lillebror er et større talent". Tipsbladet (bằng tiếng Đan Mạch). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2023.
  13. "Russia World Cup ban appeal rejected by CAS". ESPN. ngày 18 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2023.
  14. Jensen, Kenneth (ngày 27 tháng 5 năm 2022). "Her er SIF's mulige modstandere i EL-playoff". Tipsbladet (bằng tiếng Đan Mạch). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2023.
  15. Mignon, Jacob (ngày 9 tháng 5 năm 2024). "Kæmpe rød jubel i Parken: Silkeborg vinder pokalfinalen". DR (bằng tiếng Đan Mạch). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
  16. "Holdet" (bằng tiếng Danish). Silkeborg IF. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2025.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  17. Silkeborg IF: Most goals Lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2016 tại Wayback Machine, Ghi nhiều bàn nhất, truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2017.
  18. Silkeborg IF: Most matches Lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2017 tại Wayback Machine, Ra sân nhiều nhất, truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2017.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Danh sách đội Danish Superliga Bản mẫu:Đội vô địch UEFA Intertoto Cup