AK-47
| AK-47 | |
|---|---|
AK-47 loại 3 | |
| Loại | Súng trường tấn công Súng tiểu liên |
| Nơi chế tạo | |
| Lược sử hoạt động | |
| Sử dụng bởi | Xem § Các quốc gia sử dụng |
| Trận | Xem § Xung đột |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Mikhail Kalashnikov |
| Năm thiết kế | 1942–1947[1] |
| Nhà sản xuất | Tập đoàn Kalashnikov, Nhà máy Degtyaryov (Nga) Norinco (Trung Quốc) Nhà máy Z111 (Việt Nam) ... |
| Giai đoạn sản xuất | 1948–nay[2][3] |
| Số lượng chế tạo | 75 triệu khẩu AK-47 và 100 triệu biến thể của AK-47 |
| Các biến thể | Xem § Các biến thể |
| Thông số | |
| Khối lượng | Không có đạn: 3,47 kg (7,7 lb) Băng đạn rỗng: 0,43 kg (0,95 lb) [4] 0,33 kg (0,73 lb) (thép)[5] 0,25 kg (0,55 lb) (nhựa composite) 0,17 kg (0,37 lb) (hợp kim nhẹ) |
| Chiều dài | Báng gỗ: 880 mm (35 in) Báng xếp: 645 mm (25,4 in) |
| Độ dài nòng | Chiều dài tổng thể: 415 mm (16,3 in)[6] Chiểu dài rãnh xoắn: 369 mm (14,5 in)[6] |
| Đạn | 7.62x39mm |
| Cơ cấu hoạt động | Trích khí dài Khóa nòng xoay |
| Tốc độ bắn | Tốc độ bắn lý thuyết: 600 phát/phút[6] Tốc độ bắn chiến đấu: Phát một 40 phát/phút[6] Điểm xạ 100 phát/phút[6] |
| Sơ tốc đầu nòng | 715 m/s (2.350 ft/s)[6] |
| Tầm bắn hiệu quả | 350 m (380 yd)[6] |
| Chế độ nạp | Hộp tiếp đạn cong 10, 20, 30, 40 viên Hộp tiếp đạn trống 75 và 100 viên (RPK) |
| Ngắm bắn | 100–800m với điểm ruồi |
AK-47, tên chính thức là Avtomat Kalashnikova (tiếng Nga: Автомат Калашникова, n.đ. 'súng trường tự động Kalashnikov'; còn đựoc gọi là Kalashnikov hay đơn giản là AK), là một trong những súng trường tấn công (theo phân loại của NATO) hoặc súng tiểu liên (theo phân loại của khối xã hội chủ nghĩa) thông dụng nhất của thế kỷ XX, được thiết kế bởi Mikhail Kalashnikov. Theo phân loại của khối xã hội chủ nghĩa, AK-47 thuộc loại súng tiểu liên, họ súng máy. Theo phân loại của NATO, AK-47 thuộc loại súng trường tấn công, cũng thuộc họ súng máy.
Cho đến đầu thế kỷ XXI, dù đã có hơn 70 năm tuổi thọ nhưng AK-47 và các phiên bản của nó vẫn là thứ vũ khí được ưa chuộng nhất, được lựa chọn là vũ khí tiêu chuẩn bởi trên 50 quân đội, ngoài ra nó còn phục vụ rất nhiều các lực lượng vũ trang, du kích khác tại hơn 100 quốc gia trên thế giới.[7] Chi phí sản xuất, chi phí bảo dưỡng đều rất thấp, độ tin cậy, hiệu quả, độ bền bỉ rất cao trong điều kiện chiến đấu khắc nghiệt của loại súng này làm cho nó trở thành loại vũ khí cá nhân thông dụng nhất thế giới. Tầm bắn hiệu quả nhất của AK-47 trong khoảng 400 m, chuyên dùng để tác chiến tầm ngắn và tầm trung.[8], các phiên bản mới hơn có thể đạt tầm bắn hiệu quả xa hơn, khoảng 500 m.
Một số người vẫn cho rằng AK-47 đã chịu ảnh hưởng từ khẩu StG-44 của Đức Quốc xã, bởi 2 loại súng này có một số điểm giống nhau về ngoại hình. Nhưng thực ra, cơ chế hoạt động của 2 mẫu súng rất khác nhau: cơ chế trích khí của AK-47 khác biệt hoàn toàn, và AK-47 sử dụng khóa nòng xoay còn StG-44 dùng khóa nòng trượt. Cuộc thi thiết kế súng dẫn đến sự ra đời của AK-47 đã được tổ chức từ năm 1943, trước cả khi khẩu StG-44 xuất hiện.[9]
Với những ảnh hưởng của mình, AK-47 được gọi là một biểu tượng trong quân sự,[7] một thứ vũ khí làm thay đổi bộ mặt chiến tranh.[10] Hiện tại súng AK-47 đang là vũ khí cá nhân tiêu chuẩn cho quân đội của hơn 60 quốc gia trên thế giới. Rất nhiều quốc gia khác nữa sử dụng AK-47 cho các lực lượng cảnh sát, biên phòng. AK-47 còn là lựa chọn của các lực lượng nổi dậy và tội phạm trên khắp thế giới do độ bền rất cao và giá thành lại rẻ. Ngay cả ở Hoa Kỳ, nơi chế tạo ra loại súng đối thủ là M16, AK-47 cùng với các biến thể của nó (như mẫu shotgun như Saiga 12K) vẫn bán rất chạy trên thị trường súng dân sự Mỹ với số lượng hàng triệu khẩu đã được bán, tương đương số lượng súng AK-47 và các biến thể của nó mà quân đội Nga và cảnh sát Nga đang sở hữu.[11]
AK-47 là nền tảng để Liên Xô (sau này là Nga) nghiên cứu và phát triển thành các biến thể hiện đại hóa như: АKM, RPK, AK-74, RPK-74, AN-94, AK-103, AK-107, AK-12, RPK-16,... các phiên bản hiện đại hóa được làm bằng vật liệu nhẹ với công nghệ chế tạo hiện đại hơn và được trang bị thêm các phụ kiện như kính ngắm chấm đỏ, kính ngắm quang học, súng phóng lựu, nòng giảm thanh,.... Các quốc gia khác cũng phát triển một loạt mẫu súng mới dựa trên nền tảng của AK-47 như Galil ACE (Israel và Việt Nam), Rk 95 Tp (Phần Lan), Karabinek szturmowy wz. 1996 Beryl (Ba Lan), Zastava M21 (Serbia), K-56 (Trung Quốc và Việt Nam) và STL-1A, GK1, GK3 (Việt Nam).
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Bối cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, mẫu súng trường Sturmgewehr 44 được lực lượng Đức Quốc xã sử dụng đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với phía Liên Xô.[12][13] Mẫu súng trường có chế độ chọn cách bắn này sử dụng loại đạn trung gian mới là 7,92×33mm Kurz, kết hợp hỏa lực của súng tiểu liên với tầm bắn và độ chính xác của súng trường.[14][15] Vào ngày 15 tháng 7 năm 1943, một phiên bản đời đầu của Sturmgewehr đã được trình diễn trước Bộ Dân ủy Vũ khí Liên Xô.[16] Phía Liên Xô bị ấn tượng bởi loại vũ khí này và ngay lập tức bắt tay vào việc phát triển một loại súng trường tự động hoàn toàn sử dụng cỡ đạn trung gian của riêng mình,[12][13] nhằm thay thế súng tiểu liên PPSh-41 và súng trường lên đạn thủ công Mosin–Nagant lỗi thời vốn đang trang bị cho phần lớn Quân đội Liên Xô.[17]
Liên Xô sớm phát triển loại đạn 7.62×39mm M43, được sử dụng cho[16] súng carbine bán tự động SKS và súng máy hạng nhẹ RPD.[18] Ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Liên Xô đã phát triển súng trường AK-47, loại vũ khí nhanh chóng thay thế SKS trong biên chế quân đội.[19][20] Được giới thiệu vào năm 1959, AKM là phiên bản thép dập nhẹ hơn và là biến thể phổ biến nhất của toàn bộ dòng súng AK. Vào những năm 1960, Liên Xô đã giới thiệu súng máy hạng nhẹ RPK, một loại vũ khí kiểu AK với thân súng (hộp khóa nòng) chắc chắn hơn, nòng nặng dài hơn và có giá súng hai chân, cuối cùng đã thay thế súng máy hạng nhẹ RPD.[18]
Ý tưởng thiết kế
[sửa | sửa mã nguồn]Mikhail Timofeyevich Kalashnikov bắt đầu sự nghiệp của mình với tư cách là một nhà thiết kế vũ khí vào năm 1941 khi đang hồi phục sau một vết thương ở vai trong Trận Bryansk.[21][22] Chính Kalashnikov đã kể lại: "Tôi đang ở trong bệnh viện, và một người lính ở giường bên cạnh hỏi: 'Tại sao binh sĩ của chúng ta chỉ có một khẩu súng trường cho hai hoặc ba người trong khi quân Đức có súng tự động?' Vì vậy tôi đã thiết kế một khẩu. Tôi là một người lính, và tôi đã tạo ra một khẩu súng máy cho người lính. Nó được gọi là Avtomat Kalashnikova, vũ khí tự động của Kalashnikov — AK và nó mang năm sản xuất đầu tiên là 1947."[23]
AK-47 được mô tả chính xác nhất là một sự kết hợp từ các cải tiến công nghệ súng trường trước đó. "Kalashnikov quyết định thiết kế một khẩu súng trường tự động kết hợp những tính năng tốt nhất của khẩu M1 Garand của Mỹ và StG 44 của Đức."[21] Nhóm của Kalashnikov có quyền tiếp cận những vũ khí này và không cần phải "phát minh lại bánh xe". Chính Kalashnikov đã nhận xét: "Rất nhiều binh sĩ Quân đội Nga hỏi tôi làm thế nào để trở thành một nhà chế tạo, và vũ khí mới được thiết kế như thế nào. Đây là những câu hỏi rất khó. Mỗi nhà thiết kế dường như có con đường riêng, những thành công và thất bại riêng. Nhưng có một điều rõ ràng: trước khi cố gắng tạo ra thứ gì đó mới, điều quan trọng là phải có sự đánh giá thấu đáo về tất cả những gì đã tồn tại trong lĩnh vực này. Bản thân tôi đã có nhiều trải nghiệm xác nhận điều đó là đúng."[22]
Các thiết kế sơ khai
[sửa | sửa mã nguồn]Kalashnikov bắt đầu làm việc trên thiết kế súng tiểu liên vào năm 1942[24] và thiết kế súng máy hạng nhẹ vào năm 1943.[25][26] Đầu năm 1944, Kalashnikov được cấp một số viên đạn 7,62×39mm M43 và được thông báo rằng các nhà thiết kế khác đang nghiên cứu vũ khí cho loại đạn cỡ nhỏ mới này của Liên Xô. Người ta gợi ý rằng một loại vũ khí mới có thể dẫn đến những thành tựu lớn lao hơn. Sau đó, ông bắt tay vào nghiên cứu loại súng trường mới.[27] Năm 1944, ông tham gia một cuộc thi thiết kế với mẫu súng carbine bán tự động, vận hành bằng trích khí với piston hành trình dài sử dụng đạn 7,62×39mm, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ khẩu M1 Garand của Mỹ.[28] [29] Mẫu súng trường mới này cùng phân khúc với súng carbine SKS-45, với hộp tiếp đạn cố định và ống dẫn khí phía trên nòng súng.[27] Tuy nhiên, thiết kế mới của Kalashnikov đã thua thiết kế của Simonov.[30]
Năm 1946, một cuộc thi thiết kế mới được khởi xướng để phát triển một loại súng trường mới.[31] Kalashnikov đã đệ trình một mẫu súng trường vận hành bằng trích khí với piston hành trình ngắn phía trên nòng súng, cơ chế khóa nòng tương tự như mẫu súng carbine năm 1944 của ông và một hộp tiếp đạn cong 30 viên.[32] Các mẫu súng của Kalashnikov, bao gồm AK-1 (với hộp khóa nòng phay) và AK-2 (với hộp khóa nòng dập), đã chứng tỏ là những vũ khí đáng tin cậy và được chấp nhận vào vòng thi thứ hai cùng với các thiết kế khác.
Các mẫu nguyên mẫu này (còn được gọi là AK-46) có khóa nòng xoay, thân súng gồm hai phần với cụm cò riêng biệt, bộ điều khiển kép (chốt an toàn và cần chọn chế độ bắn riêng biệt), và tay kéo khóa nòng không chuyển động theo khóa nòng nằm ở bên trái vũ khí.[32][33] Thiết kế này có nhiều điểm tương đồng với StG 44[34](mặc dù StG 44 sử dụng khóa nòng nghiêng kín). Cuối năm 1946, khi các khẩu súng đang được thử nghiệm, một trong những trợ lý của Kalashnikov là Aleksandr Zaitsev đã đề xuất một cuộc thiết kế lại lớn để cải thiện độ tin cậy. Ban đầu Kalashnikov còn do dự vì khẩu súng của họ vốn đã thể hiện tốt hơn các đối thủ. Tuy nhiên, cuối cùng Zaitsev đã thuyết phục được Kalashnikov.

Vào tháng 11 năm 1947, các mẫu nguyên mẫu mới (AK-47) đã được hoàn thành. Khẩu súng sử dụng hệ thống piston khí hành trình dài phía trên nòng súng. Thân trên và thân dưới được kết hợp thành một khối duy nhất. Cần chọn chế độ bắn và chốt an toàn được kết hợp thành một lẫy điều khiển duy nhất kiêm nắp chắn bụi ở bên phải súng, và tay kéo khóa nòng được gắn liền với bệ khóa nòng. Điều này làm đơn giản hóa thiết kế và sản xuất. Đợt thử nghiệm quân đội đầu tiên bắt đầu vào đầu năm 1948.[35] Khẩu súng mới tỏ ra đáng tin cậy trong nhiều điều kiện khác nhau và có đặc tính sử dụng thuận tiện. Năm 1949, nó được Quân đội Liên Xô chính thức tiếp nhận với tên gọi "súng trường Kalashnikov 7,62 mm (AK)".[36]
Phát triển thêm
[sửa | sửa mã nguồn]
Đã có nhiều khó khăn trong giai đoạn sản xuất ban đầu. Những mẫu sản xuất đầu tiên có hộp khóa nòng bằng thép tấm dập với khối đỡ nòng và hốc gắn báng súng được phay, cùng phần thân dập. Các khó khăn nảy sinh trong việc hàn các rãnh dẫn hướng và rãnh hất vỏ đạn, gây ra tỷ lệ phế phẩm cao.[37] Thay vì tạm dừng sản xuất, một thân súng gia công cơ khí (phay)[a] nặng hơn đã được thay thế cho thân súng bằng thép tấm. Mặc dù việc sản xuất những khẩu súng trường thân phay này bắt đầu vào năm 1951, chúng được gọi chính thức là AK-49 dựa trên ngày bắt đầu phát triển, nhưng chúng được biết đến rộng rãi trong giới sưu tầm và thị trường thương mại hiện nay với tên gọi "AK-47 Loại 2".[38][39] Đây là một quy trình tốn kém hơn, nhưng việc sử dụng thân súng phay đã đẩy nhanh tốc độ sản xuất vì các công cụ và nhân lực từ việc sản xuất thân súng phay của súng trường Mosin–Nagant trước đó có thể dễ dàng thích nghi.[40] Một phần do những vấn đề này, Liên Xô đã không thể phân phối số lượng lớn súng trường mới cho binh sĩ cho đến năm 1956. Trong thời gian này, việc sản xuất súng trường SKS tạm thời vẫn tiếp tục.[37]
Khi các khó khăn trong sản xuất thân súng không phải dạng phay đã được khắc phục, một phiên bản thiết kế lại mang tên AKM (M viết tắt của "hiện đại hóa" hoặc "nâng cấp"; tiếng Nga: Автомат Калашникова Модернизированный [Avtomat Kalashnikova Modernizirovanniy]) đã được giới thiệu vào năm 1959.[38] Mẫu mới này sử dụng thân súng bằng thép tấm dập và có bộ phận bù giật đầu nòng vát chéo ở cuối nòng súng để bù đắp hiện tượng nảy nòng khi giật. Ngoài ra, một bộ phận làm chậm búa đập đã được thêm vào để ngăn vũ khí khai hỏa khi khóa nòng chưa đóng hết (chưa khóa hoàn toàn), trong khi bắn nhanh hoặc bắn tự động.[37] Bộ phận này đôi khi cũng được gọi là "bộ giảm tốc độ bắn", hoặc đơn giản là "bộ giảm tốc", vì nó cũng có tác dụng làm giảm số phát bắn mỗi phút khi bắn tự động. Khẩu súng trường này cũng nhẹ hơn khoảng một phần ba so với mẫu trước đó.[38]
| Loại thân súng | Mô tả[40] |
|---|---|
| Loại 1A/B | Thân súng dập nguyên bản của AK-47 được sản xuất lần đầu vào năm 1948[40] và được tiếp nhận vào năm 1949. Loại 1B được sửa đổi cho báng gấp dưới với một lỗ lớn ở mỗi bên để lắp đặt các phụ kiện cho báng gấp. |
| Loại 2A/B | Thân súng phay đầu tiên được làm từ thép rèn. Nó được đưa vào sản xuất năm 1951 và kết thúc sản xuất năm 1957. Loại 2A có một "đế" kim loại đặc trưng kết nối báng súng với thân súng và rãnh phay giảm trọng lượng ở các bên chạy song song với nòng súng. |
| Loại 3A/B | Phiên bản "cuối cùng" của thân súng AK phay được làm từ thép thanh. Nó được đưa vào sản xuất từ khoảng năm 1953–1954[41] cho đến khi AKM được giới thiệu. Đây là ví dụ phổ biến nhất của thân súng AK phay. Rãnh phay giảm trọng lượng ở các bên nằm nghiêng so với trục nòng súng. |
| Loại 4A/B | Thân súng AKM được dập từ một tấm thép phẳng dày 1,0 mm (0,04 in) được gia cố bằng các chốt và đinh tán. Nó được đưa vào sản xuất năm 1959. Nhìn chung, đây là thiết kế được sử dụng nhiều nhất trong việc chế tạo các loại súng trường dòng AK. |
Hầu hết các hoạt động sản xuất súng trường tấn công Kalashnikov có bản quyền và không có bản quyền ở nước ngoài đều thuộc biến thể AKM, một phần do việc sản xuất thân súng dập dễ dàng hơn nhiều. Mẫu này là loại thường gặp nhất, được sản xuất với số lượng lớn hơn nhiều. Tất cả các loại súng trường dựa trên thiết kế Kalashnikov thường được gọi một cách thông tục là "AK-47" ở phương Tây và một số vùng của châu Á, mặc dù điều này chỉ đúng khi áp dụng cho các loại súng trường dựa trên ba loại thân súng nguyên bản đầu tiên.[42] Ở hầu hết các quốc gia thuộc khối Đông Âu cũ, vũ khí này được gọi đơn giản là "Kalashnikov" hoặc "AK". Sự khác biệt giữa thân súng phay và thân súng dập bao gồm việc sử dụng đinh tán thay vì các mối hàn trên thân súng dập, cũng như việc đặt một vết lõm nhỏ phía trên hốc tiếp đạn để giữ ổn định hộp tiếp đạn.
Thiết kế
[sửa | sửa mã nguồn]AK-47 được thiết kế để trở thành một loại súng trường tự động hoàn toàn đơn giản, đáng tin cậy, có thể được sản xuất nhanh chóng và rẻ tiền, sử dụng các phương pháp sản xuất hàng loạt tiên tiến nhất tại Liên Xô trong cuối thập niên 1940.[43] AK-47 sử dụng hệ thống trích khí hành trình dài thường đi kèm với độ tin cậy cao trong các điều kiện khắc nghiệt.[28][29][44] Piston khí lớn, khoảng hở rộng giữa các bộ phận chuyển động và thiết kế vỏ đạn hình côn cho phép súng chịu được một lượng lớn dị vật và bụi bẩn mà không bị kẹt đạn.
Cỡ đạn
[sửa | sửa mã nguồn]
AK bắn loại đạn 7,62×39mm với sơ tốc đầu nòng là 715 m/s (2.350 ft/s).[6] Trọng lượng viên đạn là 16,3 g (0,6 oz), và trọng lượng đầu đạn là 7,9 g (122 gr).[45] Các đầu đạn M43 nguyên bản của Liên Xô là loại đạn đuôi thon 123-grain với vỏ thép mạ đồng, lõi thép lớn và một ít chì giữa lõi và vỏ. AK có khả năng xuyên thấu tuyệt vời khi bắn xuyên qua bụi rậm dày, tường hoặc thân kim loại của các loại xe thông thường vào đối phương đang cố gắng sử dụng những thứ đó làm vật che chắn. Đầu đạn 7,62×39mm M43 thường không bị vỡ vụn khi bắn trúng đối phương và có xu hướng giữ nguyên hình dạng một cách bất thường ngay cả sau khi tiếp xúc với xương. Viên đạn 7,62×39mm gây ra vết thương nghiêm trọng trong trường hợp đầu đạn bị đảo trục (lộn nhào) trong mô,[46] nhưng gây ra vết thương tương đối nhẹ nếu viên đạn xuyên ra ngoài trước khi bắt đầu đảo trục.[47]<[48][49] Nếu không có hiện tượng đảo trục, viên đạn M43 có thể xuyên thẳng qua mô với rất ít tổn thương.[47][50]
Hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, đạn 7,62×39mm tìm thấy ngày nay là loại M67 nâng cấp. Loại này đã loại bỏ lõi thép, đẩy trọng tâm về phía sau và cho phép đầu đạn mất ổn định (hoặc đảo trục) ở khoảng 3,3 in (8,4 cm), sớm hơn gần 6,7 in (17 cm) trong mô so với đạn M43.[51] Thay đổi này cũng làm giảm khả năng xuyên thấu trong gel đạn đạo xuống còn ~25 in (64 cm) đối với đạn M67 mới so với ~29 in (74 cm) của đạn M43 cũ.[51][52] Tuy nhiên, khả năng gây thương tích của M67 chủ yếu giới hạn ở kênh vết thương vĩnh viễn nhỏ do chính viên đạn tạo ra, đặc biệt là khi viên đạn đảo trục.[51]
Cơ chế vận hành
[sửa | sửa mã nguồn]
Để bắn, người sử dụng lắp một hộp tiếp đạn đã nạp đầy, kéo tay kéo khóa nòng về phía sau rồi thả ra, sau đó bóp cò. Ở chế độ bán tự động, súng chỉ bắn một lần, yêu cầu phải thả cò và bóp lại lần nữa cho phát bắn tiếp theo. Ở chế độ tự động hoàn toàn, súng trường tiếp tục bắn, tự động nạp các viên đạn mới vào buồng đạn cho đến khi hộp tiếp đạn hết đạn hoặc người bắn thả tay khỏi cò.
Sau khi hạt nổ và thuốc phóng của viên đạn bắt đầu cháy, các khí thuốc giãn nở nhanh chóng được dẫn vào ống dẫn khí phía trên nòng súng thông qua một lỗ thoát gần đầu nòng. Áp suất khí tích tụ bên trong ống dẫn khí đẩy piston hành trình dài và bệ khóa nòng về phía sau; một rãnh dẫn hướng được gia công ở mặt dưới của bệ khóa nòng, cùng với một mấu hất vỏ đạn trên rãnh dẫn hướng bệ khóa nòng, làm khóa nòng xoay khoảng 35° và mở khóa khỏi phần kéo dài của nòng súng thông qua một chốt cam trên khóa nòng. Cụm bộ phận chuyển động có khoảng chạy tự do khoảng 5,5 mm (0,2 in) tạo ra độ trễ giữa xung lực giật ban đầu của piston và quá trình mở khóa của khóa nòng, cho phép áp suất khí giảm xuống mức an toàn trước khi buồng đạn và khóa nòng tách rời nhau.
AK-47 không có van điều chỉnh khí; khí thuốc dư thừa được thông hơi qua một loạt các lỗ thoát xuyên tâm trong ống dẫn khí. Không giống như nhiều nền tảng súng trường khác (ví dụ như AR-15), các mấu khóa nòng của hệ thống Kalashnikov được vát cạnh cho phép thực hiện quá trình trích xuất sơ khởi khi khóa nòng xoay, giúp việc nạp đạn và hất vỏ đạn diễn ra tin cậy hơn, mặc dù lực này không quá mạnh do khoảng cách ngắn mà bệ khóa nòng di chuyển trước khi tác động lên mấu khóa. Hệ thống Kalashnikov sau đó sử dụng một móc văng đạn cùng với bộ phận hất vỏ đạn hình vây để đẩy vỏ đạn đã sử dụng ra ngoài.[53]
Nòng súng
[sửa | sửa mã nguồn]
Súng được trang bị nòng súng với lòng nòng mạ crôm và bốn rãnh xoắn về phía bên phải với tỷ lệ xoắn khương tuyến là 240 mm (1 vòng trong 9,45 inch) hoặc 31,5 lần cỡ nòng. Cụm trích khí chứa một đường dẫn khí được lắp đặt ở một góc nghiêng so với trục lòng nòng. Đầu nòng được tiện ren để lắp đặt các thiết bị đầu nòng khác nhau như bộ phận bù giật hoặc thiết bị hỗ trợ bắn đạn mã tử.
Cụm trích khí
[sửa | sửa mã nguồn]Cụm trích khí của AK-47 có bộ phận giữ thông nòng hoặc vòng móc dây đeo. Các lỗ thoát khí giúp giảm bớt áp suất khí được đặt nằm ngang thành một hàng trên ống dẫn khí.
Cần chọn chế độ bắn
[sửa | sửa mã nguồn]Cần chọn chế độ bắn là một lẫy lớn nằm ở bên phải của súng trường; nó đóng vai trò như một nắp chắn bụi và ngăn không cho tay kéo khóa nòng bị kéo hết về phía sau khi đang ở chế độ an toàn.[54] Nó được vận hành bằng các ngón tay trỏ bên phải của người bắn và có ba nấc cài đặt: an toàn (trên cùng), tự động hoàn toàn (giữa), và bán tự động (dưới cùng).[54] Lý do cho thiết kế này là một người lính khi đang chịu áp lực sẽ đẩy lẫy chọn xuống với một lực rất mạnh, khiến nó bỏ qua nấc tự động ở giữa và đưa súng thẳng về chế độ bán tự động.[54] Để cài đặt AK-47 sang chế độ tự động hoàn toàn, người lính cần một hành động có chủ ý để đưa lẫy về vị trí chính giữa.[54]
Để vận hành lẫy chọn chế độ bắn, những người bắn thuận tay phải phải tạm thời rời bàn tay phải khỏi tay cầm súng, điều này không tối ưu về mặt công thái học. Một số loại súng kiểu AK cũng có một lẫy chọn truyền thống hơn ở phía bên trái thân súng (hộp khóa nòng), ngay phía trên tay cầm.[54] Lẫy này được vận hành bằng ngón tay cái bên phải của người bắn và có ba nấc cài đặt: an toàn (phía trước), tự động hoàn toàn (giữa), và bán tự động (phía sau).[54]
Hệ thống ngắm
[sửa | sửa mã nguồn]
AK-47 sử dụng thước ngắm cơ khí dạng lá có khe ngắm, được hiệu chỉnh theo các vạch chia 100 m trong khoảng từ 100 m (109 yd) đến 100 đến 800 m (109 đến 875 yd).[55] Đầu ngắm là một cọc ngắm có thể điều chỉnh độ cao (tầm) ngay tại thực địa. Việc điều chỉnh theo phương ngang đòi hỏi một dụng cụ đóng chuyên dụng và thường được thực hiện tại kho vũ khí trước khi cấp phát, hoặc do thợ quân khí thực hiện khi cần thiết sau khi cấp phát.
Đường ngắm cao hơn trục lòng nòng khoảng 48,5 mm (1,9 in). over the bore axis. Nấc ngắm chiến đấu "tầm bắn thẳng" ký hiệu là 'П', (viết tắt của постоянная - nghĩa là 'không đổi') trên thước ngắm của AK-47 cỡ đạn 7,62×39mm tương ứng với điểm ngắm 300 m (328 yd).[55][56] Các thiết lập này mô phỏng theo súng trường Mosin–Nagant và SKS mà AK-47 đã thay thế vai trò.
Đối với AK-47 sử dụng đạn tiêu chuẩn, nấc ngắm chiến đấu 300 m giới hạn "độ cao đường đạn" biểu kiến trong khoảng từ −5 đến +31 cm (−2,0 đến 12,2 in) so với đường ngắm. Binh sĩ được huấn luyện để bắn vào bất kỳ mục tiêu nào trong tầm này bằng cách đơn giản là đặt thước ngắm vào trọng tâm mục tiêu (thường là khóa thắt lưng, theo học thuyết của Nga và Liên Xô cũ). Mọi sai số trong việc ước lượng khoảng cách đều không quan trọng về mặt chiến thuật, vì một phát bắn chuẩn xác vẫn sẽ trúng vào thân người đối phương. Một số loại súng kiểu AK có đầu ngắm tích hợp điểm phát quang lật lên được hiệu chỉnh ở mức 50 m 50 m (55 yd) để cải thiện khả năng chiến đấu ban đêm.[55]
Ốp lót và báng súng
[sửa | sửa mã nguồn]AK-47 ban đầu được trang bị báng súng, ốp lót tay dưới và ốp cách nhiệt phía trên làm từ gỗ nguyên khối. Với sự ra đời của thân súng Loại 3, các bộ phận này được sản xuất từ gỗ dán ép bạch dương.[40] Loại gỗ kỹ thuật này bền hơn và chống cong vênh tốt hơn so với các mẫu gỗ nguyên khối truyền thống, không yêu cầu thời gian chờ gỗ già lâu và có giá thành rẻ hơn. Các bộ phận bằng gỗ được hoàn thiện bằng quy trình đánh bóng shellac màu hổ phách của Nga.[57] Các mẫu AKS và AKMS có báng sắt gấp dưới tương tự như súng tiểu liên MP40 của Đức, nhằm sử dụng trong không gian hạn chế của xe chiến đấu bộ binh BMP cũng như dành cho lính nhảy dù. Tất cả các dòng AK series 100 đều sử dụng phụ kiện bằng nhựa với báng gấp hông.
Hộp tiếp đạn
[sửa | sửa mã nguồn]
Dung lượng hộp tiếp đạn tiêu chuẩn là 30 viên. Ngoài ra còn có các loại hộp tiếp đạn thẳng 10, 20 và 40 viên, cũng như hộp tiếp đạn tròn 75 viên.
Hộp tiếp đạn 30 viên tiêu chuẩn của AK-47 có độ cong rõ rệt, giúp nạp đạn vào buồng đạn một cách trơn tru. Cấu trúc thép dày kết hợp với "môi tiếp đạn" (các bề mặt ở phía trên hộp tiếp đạn nhằm kiểm soát góc viên đạn đi vào buồng đạn) được gia công từ một phôi thép duy nhất khiến chúng có khả năng chống hư hỏng rất cao. Những hộp tiếp đạn này bền đến mức "binh sĩ được biết đến là đã sử dụng chúng như búa, và thậm chí là đồ khui nắp chai".[58][59] Điều này góp phần làm cho hộp tiếp đạn AK-47 đáng tin cậy hơn nhưng cũng khiến nó nặng hơn so với hộp tiếp đạn của Mỹ và NATO.
Các loại hộp tiếp đạn 30 viên bằng thép thành phẳng đời đầu của AK-47 có thân bằng thép tấm dày 1 mm (0,039 in) và nặng 430 g (0,95 lb) khi rỗng.[44] Các hộp tiếp đạn 30 viên bằng thép sau này của AKM có thân bằng thép tấm nhẹ hơn với các gờ gia cường nổi bật, nặng 0,33 kg (0,73 lb) rỗng.[44][60] Để giảm trọng lượng hơn nữa, một loại hộp tiếp đạn nhẹ có thân bằng nhôm với họa tiết gân hình bánh waffle nổi bật nặng 0,19 kg (0,42 lb) đã được phát triển cho AKM, nhưng chúng tỏ ra quá mỏng manh và số lượng ít ỏi được cấp phát đã nhanh chóng bị rút khỏi biên chế.[61]
Để thay thế, các hộp tiếp đạn 30 viên bằng nhựa cỡ 7,62×39mm gia cường bằng thép đã được giới thiệu. Những hộp tiếp đạn màu gỉ sắt này nặng 0,24 kg (0,53 lb) khi rỗng và thường bị xác định nhầm là làm từ Bakelite (một loại nhựa phenolic), nhưng thực tế chúng được chế tạo từ hai phần hợp chất đúc AG-S4 (một loại composite liên kết phenol-formaldehyde gia cường bằng sợi thủy tinh), được lắp ráp bằng keo nhựa epoxy.[62][63][64] Nổi tiếng về độ bền, tuy nhiên những hộp tiếp đạn này làm ảnh hưởng đến khả năng ngụy trang của súng và thiếu các gờ gia cường nhỏ nằm ngang chạy dọc hai bên thân hộp tiếp đạn gần phía trước (vốn đã được thêm vào trên tất cả các thế hệ hộp tiếp đạn nhựa sau này).[64]
Thế hệ thứ hai của hộp tiếp đạn 30 viên 7,62×39mm bằng nhựa ABS gia cường bằng thép màu nâu sẫm (màu sắc thay đổi từ đỏ sẫm, màu mận đến gần như đen) được giới thiệu vào đầu thập niên 1980. Thế hệ thứ ba tương tự như thế hệ thứ hai nhưng có màu tối hơn và bề mặt nhám không phản quang. Loại đang được cấp phát hiện nay là hộp tiếp đạn 30 viên 7,62×39mm bằng nhựa ABS màu đen tuyền, bề mặt nhám không phản quang, nặng 0,25 kg (0,55 lb) khi rỗng.[6]
Hộp tiếp đạn AK-47 bằng thép đời đầu dài 9,75 in (248 mm) ; các hộp tiếp đạn AKM bằng thép có gờ sau này và các hộp tiếp đạn nhựa 7,62×39mm mới hơn ngắn hơn khoảng 1 in (25 mm).[65][66]
Việc chuyển đổi từ hộp tiếp đạn thép sang nhựa chủ yếu mang lại sự giảm trọng lượng đáng kể, cho phép binh sĩ mang theo nhiều đạn hơn với cùng một mức trọng lượng.
| Súng trường | Loại đạn | Trọng lượng hộp tiếp đạn rỗng | Trọng lượng hộp tiếp đạn đầy | Lượng đạn mang theo tối đa, định mức 10,12 kg (22,3 lb)* |
|---|---|---|---|---|
| AK-47 (1949) | 7.62×39mm | Thép thành phẳng 430 g (0,95 lb) |
30 viên 916 g (2,019 lb)[44] |
11 hộp (330 viên) 10,08 kg (22,2 lb) |
| AKM (1959) | Thép dập có gờ 330 g (0,73 lb) |
30 viên 819 g (1,806 lb)[44][60] |
12 hộp (360 viên) 9,83 kg (21,7 lb) | |
| AK-103 (1994) | Nhựa gia cường thép 250 g (0,55 lb) |
30 viên 739 g (1,629 lb)[44][60] |
13 hộp (390 viên) 9,61 kg (21,2 lb) |
Tất cả các hộp tiếp đạn AK cỡ 7,62×39mm đều có khả năng tương thích ngược với các biến thể AK cũ hơn. Hầu hết các hộp tiếp đạn của Nam Tư được chế tạo với bộ phận nâng đạn có chức năng giữ khóa nòng mở khi hết đạn.[67]
Phụ kiện
[sửa | sửa mã nguồn]

Các phụ kiện đi kèm với súng bao gồm lưỡi lê 6H3 dài 387 mm (15,2 in) với lưỡi dao kiểu mũi giáo dà 200 mm (7,9 in). Lưỡi lê AK-47 được lắp bằng cách luồn vòng gắn đầu nòng đường kính 17,7 mm (0,70 in) quanh nòng súng và chốt tay cầm vào mấu gắn lưỡi lê dưới bệ đầu ngắm.[68]
Tất cả các mẫu súng trường AKM hiện tại đều có thể gắn súng phóng lựu kẹp nòng 40 mm như GP-25 và các biến thể của nó, có thể bắn tới 20 quả mỗi phút và có tầm bắn hiệu quả lên tới 400 mét.[69] Loại đạn chính là lựu đạn mảnh VOG-25 (VOG-25M) có bán kính sát thương từ 6 m đến 9 m. Biến thể VOG-25P/VOG-25PM ("lựu đạn nhảy") sẽ phát nổ ở độ cao 0,5–1 mét (1,6–3,3 ft) so với mặt đất.[70]
AK-47 cũng có thể gắn một loại súng phóng lựu dạng cốc (hiếm khi được sử dụng) gọi là súng phóng lựu Kalashnikov, bắn các loại lựu đạn cầm tay tiêu chuẩn RGD-5 của Liên Xô. Tầm bắn hiệu quả tối đa xấp xỉ 150 mét.[71] Ống phóng này cũng có thể được sử dụng để bắn lựu đạn hơi cay và lựu đạn chống bạo động.
Tất cả các dòng AK hiện nay (series 100) và một số mẫu cũ hơn đều có gá bên hông để gắn nhiều loại kính ngắm và thiết bị quan sát, chẳng hạn như kính ngắm bắn tỉa quang học PSO-1.[72] Các rãnh bên hông cho phép tháo rời và lắp lại các phụ kiện quang học mà không làm ảnh hưởng đến việc hiệu chỉnh kính ngắm (lấy lại điểm không). Tuy nhiên, báng gấp hông của series 100 không thể gấp lại khi đang gắn kính ngắm.
Các biến thể
[sửa | sửa mã nguồn]
Giai đoạn đầu (7.62×39mm)
[sửa | sửa mã nguồn]- Phiên bản 1948/49 (Loại 1): Những mẫu đời đầu nhất, sử dụng hộp khóa nòng bằng thép tấm dập, hiện nay rất hiếm.
- Phiên bản 1951 (Loại 2): Có hộp khóa nòng phay. Nòng súng và buồng đạn được mạ crôm để chống ăn mòn.
- Phiên bản 1954/55 (Loại 3): Biến thể hộp khóa nòng phay được làm nhẹ. Trọng lượng súng là 3,47 kg (7,7 lb).[4]
- AKS (AKS-47): Sử dụng hộp khóa nòng Loại 1, 2 hoặc 3: Có báng kim loại gấp dưới tương tự như MP 40 để sử dụng trong không gian hạn chế của xe chiến đấu bộ binh BMP và lính dù.
- AKN (AKSN): Có rãnh gắn kính ngắm ban đêm.[73]
Hiện đại hóa (7.62×39mm)
[sửa | sửa mã nguồn]- AKM: Một phiên bản đơn giản hóa, nhẹ hơn của AK-47; hộp khóa nòng Loại 4 được làm từ thép tấm dập và tán đinh. Một thiết bị đầu nòng vát chéo được thêm vào để giảm hiện tượng nảy nòng khi bắn tự động. Trọng lượng súng là 3,1 kg (6,8 lb)[6] nhờ hộp khóa nòng nhẹ hơn. Đây là biến thể phổ biến nhất của dòng AK-47.
- AKMS: Phiên bản báng gấp dưới của AKM dành cho lính dù.
- AKMN (AKMSN): Rãnh gắn kính ngắm ban đêm.
- AKML (AKMSL): Bộ phận che lửa dạng rãnh và gá gắn kính ngắm ban đêm.[74]
- RPK: Phiên bản súng máy hạng nhẹ cầm tay với nòng dài hơn và giá súng. Các biến thể—RPKS, RPKN (RPKSN), RPKL (RPKSL)—tương ứng với các biến thể của AKM. Các biến thể "S" có báng gỗ gấp hông.
Các biến thể nước ngoài (7.62×39mm)
[sửa | sửa mã nguồn]| Quốc gia | Các biến thể |
|---|---|
| Albania | Automatiku Shqiptar 1978 mẫu 56 (ASH-78 Tip-1) sản xuất tại Nhà mãy vũ khí Poliçan (bản sao của Type 56 dựa trên AKM); mẫu 56 Tip-2 (bản sao RPK); mẫu 56 Tip-3 bản lai đa năng có khả năng gắn súng phóng lựu; mẫu 1982 (ASH-82) bản sao AKMS. Nhiều phiên bản AKMS nòng ngắn tương tự AKS-74U được sản xuất cho đặc nhiệm, tổ lái và cảnh sát. Bản ASh-82 cải tiến với phụ kiện SOPMOD dành cho lực lượng đặc nhiệm RENEA.[75] |
| Algeria | PM-89 và PM-89-1.[76] |
| Armenia | K-3 (thiết kế bullpup dùng đạn 5.45×39mm) |
| Azerbaijan | Khazri (AK-74M)[77] |
| Bangladesh | Sử dụng mẫu Type 56 của Trung Quốc. |
| Bulgaria | AKK/AKKS (AK-47 Loại 3/báng gấp hông); AKKMS (AKMS); AKKN-47 (có mấu gắn kính ngắm đêm); AK-47M1 (Loại 3 với phụ kiện polymer đen); AK-47MA1/AR-M1 (giống M1 nhưng dùng đạn 5.56×45mm NATO); AKS-47M1 (AKMS dùng đạn 5,56mm NATO); AR-SF (bản ngắn dùng đạn 5,56mm NATO); RKKS (RPK); AKT-47 (súng huấn luyện đạn .22). |
| Cambodia | Type 56(Trung Quốc), AK-47 (Liên Xô) và AKM. |
| Trung Quốc | Type 56 |
| Colombia | Galil ACE, Galil Córdova |
| Croatia | APS-95 |
| Cuba | AKM[78] |
| Đông Đức[79] | MPi-K/MPi-KS (AK-47/AKS); MPi-KM (AKM, báng gỗ hoặc nhựa); MPi-KMS-72 (báng gấp hông); MPi-KMS-K (súng carbine nòng ngắn); MPi-AK-74N (AK-74).[79] |
| Ai Cập | AK-47, súng trường tấn công Misr (AKMS), Maadi ARM (AKM). |
| Ethiopia | AK-47, AK-103 (sản xuất trong nước tại Tổ hợp Kỹ thuật Vũ khí Gafat với tên gọi Et-97/1).[80] |
| Phần Lan | Rk 62, Valmet M76, Valmet M78 (súng máy hạng nhẹ), Rk 95 Tp |
| Hungary | AK-55 (sản xuất trong nước theo mẫu AK-47 Loại 2); AKM-63 (AK-55 hiện đại hóa); AMD-65M (nòng ngắn, báng gấp hông); AMP-69 (có khả năng phóng lựu); AK-63F/D (tên khác là AMM/AMMSz), AK-63MF (bản hiện đại hóa); NGM-81 (5.56×45mm NATO)[81] |
| Ấn Độ | INSAS (báng cố định và gấp hông), KALANTAK (carbine), súng máy hạng nhẹ INSAS; một phiên bản không giấy phépvới phụ kiện sợi carbon tên là AK-7;[82] và súng trường tấn công Trichy.[83] |
| Iran | KLS/KLF (AK-47/AKS), KLT (AKMS) |
| Iraq | Súng bắn tỉa Tabuk, súng trường Tabuk (bản sao của dòng M70 Nam Tư), Tabuk nòng ngắn. |
| Israel | IMI Galil: AR (súng trường chiến đấu), ARM (súng trường/súng máy nhẹ), SAR (carbine), MAR (carbine siêu gọn), Sniper (súng bắn tỉa); và Galil ACE. |
| Italy | Bernardelli VB-STD/VB-SR (Galil AR/SAR)[84] |
| Nigeria | Sản xuất bởi DICON với tên gọi OBJ-006.[85][86] |
| Bắc Triều Tiên | Type 58A/B (AK-47 Loại 3/báng thép gấp); Type 68 (AKM/AKMS); Type 88 (AK-74/AKS-74 với báng gấp ngược lên trên).[87][88] |
| Pakistan | Các bản sao sản xuất thủ công tại vùng đèo Khyber; gần đây Nhà máy Vũ khí Pakistan bắt đầu sản xuất bản sao AK-47/AKM tên là PK-10.[89] |
| Ba Lan | PmK (kbk AK) / PmKS (kbk AKS), súng tiểu liên Kalashnikov đổi tên thành Kbk AK, súng carbine Kalashnikov trong thập niên 1960 (AK-47/AKS); kbkg wz. 1960 (súng trường phóng lựu), kbkg wz. 1960/72 (hiện đại hóa); kbk AKM / kbk AKMS (AKM/AKMS); kbk wz. 1988 Tantal (5.45×39mm), skbk wz. 1989 Onyks (carbine nhỏ gọn); kbs wz. 1996 Beryl (5.56×45mm), kbk wz. 1996 Mini-Beryl (carbine nhỏ gọn)[90] |
| Romania | PM md. 63/65 (AKM/AKMS), PM md. 80, PM md. 90, được xuất khẩu dưới tên gọi chung là AIM hoặc AIMS; PA md. 86 (AK-74) xuất khẩu dưới tên AIMS-74; PM md. 90 nòng ngắn, PA md. 86 nòng ngắn xuất khẩu dưới tên AIMR; PSL (súng bắn tỉa chỉ định; các tên gọi khác bao gồm PSL-54C, Romak III, FPK và SSG-97) |
| Nam Phi | Súng trường R4, Truvelo Raptor, Vektor CR-21 (thiết kế bullpup) |
| Sudan | MAZ (dựa trên mẫu Type 56)[91] |
| Syria | Súng trường Type 68 được sản xuất theo giấy phép bởi Établissement Industriel de la Défense (EID)/Defense Laboratories Corporation (DLC).[92] |
| Thổ Nhĩ Kỳ | SAR 15T,[93] SAR 308[94] Dağlıoğlu AK-47[95] |
| Ukraine | Vepr (thiết kế bullpup, 5.45×39mm), Malyuk (thiết kế bullpup)[96] |
| Hoa Kỳ | Century Arms: C39 (biến thể AK-47), RAS47 (biến thể AKM), và C39v2 (biến thể AK-47); InterOrdnance: AKM247 (biến thể AKM), M214 (súng ngắn); Palmetto State Armory: PSAK-47 (biến thể AKM); Arsenal Inc: SA M-7 (biến thể AK-47); Destructive Devices Industries: DDI 47S (biến thể AKM), DDI 47M (biến thể AK-47); Rifle Dynamics: RD700 và các mẫu súng AK / AKM tùy chỉnh khác. |
| Việt Nam | AKM-1 (AKM), TUL-1 (RPK), Galil Ace 31/32, súng trường STV |
| Venezuela | Đã được cấp giấy phép, nhà máy hiện đang trong quá trình xây dựng.[97] |
| Nam Tư/Serbia | M64, M70, M72, M76, M77, M80, M82, M85, M90, M91, M92, M99, M21 |
Theo tập đoàn Kalashnikov Concern (trước đây là Izhmash), hầu hết các loại súng trường kiểu AK do nước ngoài sản xuất đều không có giấy phép.[98][99]
Độ chính xác
[sửa | sửa mã nguồn]Phương pháp của quân đội Hoa Kỳ
[sửa | sửa mã nguồn]Độ chính xác của AK-47 nhìn chung là đủ để bắn trúng thân người trưởng thành ở khoảng cách khoảng 300 m (328 yd),[100][101] mặc dù ngay cả những chuyên gia khi bắn từ tư thế nằm hoặc tì súng trên giá ở cự ly này cũng gặp khó khăn trong việc bắn trúng đích mười viên đạn liên tiếp.[102]Các thiết kế sau này cũng không cải thiện đáng kể độ chính xác của súng.[102] Một khẩu AK có thể bắn một cụm 10 phát với độ phân tán 5,9 in (15 cm) ở khoảng cách 100 m (109 yd),[103] và 17,5 in (44 cm) ở khoảng cách 300 m (328 yd).[102] Các mẫu AKM có thân súng bằng thép dập mới hơn, mặc dù bền bỉ hơn và ít bị mỏi kim loại hơn, nhưng lại kém chính xác hơn so với thân súng phay tiện của các thế hệ tiền nhiệm: những khẩu AK-47 thân đúc có khả năng bắn các cụm từ 3 đến 5 in (8 đến 13 cm) ở khoảng cách 100 yd (91 m), trong khi AKM thân dập chỉ có khả năng bắn các cụm từ 4 đến 6 in (10 đến 15 cm) ở cùng cự ly 100 yd (91 m).[101]
Những tay súng giỏi nhất có thể bắn trúng mục tiêu kích thước người ở khoảng cách 800 m (875 yd) trong vòng năm phát bắn (tư thế nằm hoặc tì giá) hoặc mười phát bắn (tư thế đứng).[104]
Xác suất trúng đích phát một trên Bia hình người kiểu E của NATO (hình bóng nửa thân trên và đầu người) của AK-47 và các loại súng phát triển sau này như AK-74, M16A1 và M16A2 đã được quân đội Hoa Kỳ đo lường trong điều kiện bãi tập lý tưởng vào những năm 1980 như sau:
| Súng trường | Cỡ đạn | Xác suất trúng đích (Không có lỗi ước tính tầm xa hoặc lỗi ngắm) | ||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 50 m | 100 m | 200 m | 300 m | 400 m | 500 m | 600 m | 700 m | 800 m | ||
| AK-47 (1949) | 7.62×39mm | 100% | 100% | 99% | 94% | 82% | 67% | 54% | 42% | 31% |
| AK-74 (1974) | 5.45×39mm | 100% | 100% | 100% | 99% | 93% | 81% | 66% | 51% | 34% |
| M16A1 (1967) | 5.56×45mm NATO M193 | 100% | 100% | 100% | 100% | 96% | 87% | 73% | 56% | 39% |
| M16A2 (1982) | 5.56×45mm NATO SS109/M855 | 100% | 100% | 100% | 100% | 98% | 90% | 79% | 63% | 43% |
Trong điều kiện diễn tập thực địa xấu nhất, xác suất trúng đích của tất cả các loại súng thử nghiệm đều bị giảm mạnh, từ 34% ở khoảng cách 50m xuống còn 3–4% ở khoảng cách 600m và không có sự khác biệt đáng kể giữa các loại vũ khí ở mỗi cự ly.[105]
Phương pháp của Nga
[sửa | sửa mã nguồn]Bảng sau đây thể hiện phương pháp xác suất sai số vòng của Nga để xác định độ chính xác, bao gồm việc vẽ hai hình tròn trên mục tiêu, một cho độ phân tán dọc tối đa của các phát bắn và một cho độ phân tán ngang tối đa. Sau đó, họ loại bỏ các phát bắn ở phần bên ngoài của mục tiêu và chỉ tính một nửa số phát bắn (50% hoặc R50) ở phần bên trong của các hình tròn. Điều này làm giảm đáng kể đường kính tổng thể của các cụm bắn. Sau đó, họ sử dụng cả phép đo dọc và ngang của các cụm đã giảm để đo độ chính xác. Khi kết quả R50 được nhân đôi, xác suất trúng đích tăng lên 93,7%.

| Cự ly | Độ chính xác dọc (R50) bán tự động | Độ chính xác ngang (R50) bán tự động | Độ chính xác dọc (R50) loạt ngắn | Độ chính xác ngang (R50) loạt ngắn | Năng lượng đạn còn lại | Vận tốc đạn còn lại |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 0 m (0 yd) | 0 cm (0,0 in) | 0 cm (0,0 in) | 0 cm (0,0 in) | 0 cm (0,0 in) | 2.036 J (1.502 ft⋅lbf) | 718 m/s (2.356 ft/s) |
| 100 m (110 yd) | 8 cm (3,1 in) | 4 cm (1,6 in) | 9 cm (3,5 in) | 11 cm (4,3 in) | 1.540 J (1.140 ft⋅lbf) | 624 m/s (2.047 ft/s) |
| 200 m (219 yd) | 11 cm (4,3 in) | 8 cm (3,1 in) | 18 cm (7,1 in) | 22 cm (8,7 in) | 1.147 J (846 ft⋅lbf) | 539 m/s (1.768 ft/s) |
| 300 m (330 yd) | 17 cm (6,7 in) | 12 cm (4,7 in) | 27 cm (10,6 in) | 33 cm (13,0 in) | 843 J (622 ft⋅lbf) | 462 m/s (1.516 ft/s) |
| 400 m (440 yd) | 23 cm (9,1 in) | 16 cm (6,3 in) | 31 cm (12,2 in) | 44 cm (17,3 in) | 618 J (456 ft⋅lbf) | 395 m/s (1.296 ft/s) |
| 500 m (550 yd) | 29 cm (11,4 in) | 20 cm (7,9 in) | 46 cm (18,1 in) | 56 cm (22,0 in) | 461 J (340 ft⋅lbf) | 342 m/s (1.122 ft/s) |
| 600 m (656 yd) | 35 cm (13,8 in) | 24 cm (9,4 in) | 56 cm (22,0 in) | 67 cm (26,4 in) | 363 J (268 ft⋅lbf) | 303 m/s (994 ft/s) |
| 700 m (770 yd) | 42 cm (16,5 in) | 29 cm (11,4 in) | 66 cm (26,0 in) | 78 cm (30,7 in) | 314 J (232 ft⋅lbf) | 282 m/s (925 ft/s) |
| 800 m (870 yd) | 49 cm (19,3 in) | 34 cm (13,4 in) | 76 cm (29,9 in) | 89 cm (35,0 in) | 284 J (209 ft⋅lbf) | 268 m/s (879 ft/s) |
- R50 có nghĩa là 50% số phát bắn gần nhất sẽ nằm trong một hình tròn có đường kính đã đề cập.
Độ lệch trung bình theo chiều dọc và chiều ngang (R50) với đạn quân dụng ở khoảng cách 800 m (875 yd) đối với các dòng AK là:
| Súng trường | Chế độ bắn | Độ chính xác dọc (R50) | Độ chính xác ngang (R50) |
|---|---|---|---|
| SKS (1945) | bán tự động | 38 cm (15,0 in) | 29 cm (11,4 in) |
| AK-47 (1949) | bán tự động | 49 cm (19,3 in) | 34 cm (13,4 in) |
| AK-47 (1949) | loạt ngắn | 76 cm (29,9 in) | 89 cm (35,0 in) |
| AKM (1959) | loạt ngắn | 64 cm (25,2 in) | 90 cm (35,4 in) |
| AK-74 (1974) | loạt ngắn | 48 cm (18,9 in) | 64 cm (25,2 in) |
Sự phổ biến và ảnh hưởng văn hóa
[sửa | sửa mã nguồn]

—Larry Kahaner, tác gia của cuốn AK-47: The Weapon That Changed the Face of War[108]
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cũng như Hoa Kỳ và các quốc gia NATO khác, đã cung cấp vũ khí và kiến thức kỹ thuật cho nhiều quốc gia và lực lượng nổi dậy trên toàn thế giới. Trong thời gian này, các nước phương Tây sử dụng các loại súng trường tự động tương đối đắt tiền như FN FAL, HK G3, M14 và M16. Ngược lại, người Nga và người Trung Quốc sử dụng AK-47; chi phí sản xuất thấp và sự đơn giản trong chế tạo cho phép họ sản xuất AK với số lượng khổng lồ.
Tại các quốc gia thân cộng sản, AK-47 trở thành biểu tượng của cuộc cách mạng ở Thế giới thứ ba. Chúng được sử dụng trong Nội chiến Campuchia và Chiến tranh Campuchia – Việt Nam.[109] Trong những năm 1980, Liên Xô trở thành nhà cung cấp vũ khí chính cho các quốc gia bị phương Tây cấm vận, bao gồm các quốc gia Trung Đông như Libya và Syria. Sau khi Liên Xô tan rã, AK-47 được bán công khai lẫn trên thị trường đen cho bất kỳ nhóm nào có tiền mặt, bao gồm cả các băng đảng ma túy và các quốc gia độc tài. Gần đây hơn, chúng được thấy trong tay các nhóm phiến quân Hồi giáo như Al-Qaeda, ISIL, Taliban, hay các nhóm vũ trang cánh tả như FARC và ELN ở Colombia.[108]
Tại Nga, Kalashnikov là một nguồn tự hào dân tộc to lớn.[110] Gia đình của Mikhail Kalashnikov đã cho phép công ty kỹ thuật MMI của Đức sử dụng cái tên nổi tiếng này trên nhiều loại hàng hóa "không gây chết người".[111] Những năm gần đây, Vodka Kalashnikov đã được tiếp thị với các chai lưu niệm có hình dáng của khẩu súng AK-47.[112][113] Ngoài ra còn có đồng hồ,[114] ô dù,[115] và dao.[116][117]
Bảo tàng Kalashnikov (còn gọi là bảo tàng AK-47) khai trương ngày 4 tháng 11 năm 2004 tại Izhevsk, Cộng hòa Udmurt. Bảo tàng ghi lại tiểu sử của Tướng Kalashnikov và tư liệu về việc phát minh ra AK-47, thu hút khoảng 10.000 khách tham quan mỗi tháng.[118] Giám đốc bảo tàng, Nadezhda Vechtomova, cho biết mục đích của bảo tàng là vinh danh sự khéo léo của nhà sáng chế và để "tách biệt vũ khí với tư cách là công cụ giết người khỏi những người sản xuất ra nó và kể lại lịch sử của nó tại đất nước chúng tôi".
Vào ngày 19 tháng 9 năm 2017, một tượng đài Kalashnikov cao 9 mét (30 ft) mét đã được khánh thành tại trung tâm Moscow. Một người biểu tình sau đó đã bị cảnh sát bắt giữ khi cố gắng giương biểu ngữ có nội dung: "kẻ tạo ra vũ khí là kẻ tạo ra cái chết"..[119]
Sự phổ biến của loại vũ khí này không chỉ được phản ánh qua những con số. AK-47 được đưa vào quốc kỳ và quốc huy của Mozambique, như một sự thừa nhận rằng quốc gia này đã giành được độc lập phần lớn nhờ vào việc sử dụng hiệu quả súng AK-47.[120] Nó cũng được tìm thấy trong quốc huy của Đông Timor, Zimbabwe và Burkina Faso thời kỳ cách mạng, cũng như trong lá cờ của Hezbollah, Kháng chiến Syria , FARC-EP, Quân đội Nhân dân Mới (New People's Army), TKP/TIKKO và Lực lượng Du kích Nhân dân Cách mạng Quốc tế.
Hoa Kỳ và các quốc gia Tây Âu thường gắn liền AK-47 với kẻ thù của họ, cả trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh lẫn hiện tại. Ví dụ, các tác phẩm hư cấu của phương Tây (phim ảnh, truyền hình, tiểu thuyết, trò chơi điện tử) thường khắc họa tội phạm, thành viên băng đảng, quân nổi dậy và khủng bố sử dụng AK-47 làm vũ khí lựa chọn hàng đầu. Ngược lại, trên khắp thế giới đang phát triển, AK-47 có thể được nhìn nhận một cách tích cực gắn liền với các nhà cách mạng chống lại sự chiếm đóng của nước ngoài, chủ nghĩa đế quốc hoặc chủ nghĩa thực dân.[108]
Ở Ireland, AK-47 gắn liền với thời kỳ xung đột The Troubles do lực lượng bán quân sự cộng hòa sử dụng rộng rãi trong giai đoạn này.[121] Năm 2013, một khẩu AK-47 đã ngừng hoạt động đã được đưa vào bộ sưu tập "Lịch sử Ireland qua 100 hiện vật".[122]
AK-47 đã xuất hiện trong văn hóa đại chúng Mỹ như một trọng tâm lặp đi lặp lại trong bộ phim Lord of War (2005) của Nicolas Cage. Nhiều đoạn độc thoại trong phim tập trung vào loại vũ khí này, cũng như ảnh hưởng của nó đối với các cuộc xung đột toàn cầu và thị trường buôn lậu súngt.[123]
Tại Iraq và Afghanistan, các nhà thầu của các công ty quân sự tư nhân từ Vương quốc Anh và các quốc gia khác đã sử dụng AK-47 và các biến thể của nó cùng với các loại súng phương Tây như AR-15.[124][cần số trang]
Năm 2006, nhạc sĩ kiêm nhà hoạt động hòa bình người Colombia César López đã chế tạo ra "escopetarra", một khẩu AK được chuyển đổi thành đàn guitar. Một chiếc đã được bán với giá 17.000 USD trong một buổi gây quỹ nhằm hỗ trợ các nạn nhân của mìn nhân đạo, trong khi một chiếc khác được trưng bày tại Hội nghị Giải trừ Quân bị của Liên Hợp Quốc.[125]
Tại Mexico, AK-47 được gọi là "Cuerno de Chivo" (nghĩa đen là "Sừng dê") vì thiết kế băng đạn cong của nó. Đây là một trong những loại vũ khí lựa chọn hàng đầu của các băng đảng ma túy Mexico. Nó đôi khi được nhắc đến trong lời các bài hát dân gian Mexico.[126]
Biểu tượng của quốc gia có hình khẩu AK-47
[sửa | sửa mã nguồn]- Quốc kỳ của CHDCND Mozambique
- Quốc huy Mozambique
- Quốc huy của CHDC Đông Timor
- Quốc huy của CHND Zimbabwe
- Quốc huy của Burkina Faso trong giai đoạn 1984-1997
Các quốc gia sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]
Hiện tại
[sửa | sửa mã nguồn]
Afghanistan[127]
Albania[128]
Algérie[128]
Angola[128]
Armenia[128]
Azerbaijan[128]
Bangladesh[128]
Belarus[128]
Bénin[128]
Bosna và Hercegovina[128]
Botswana[129]
Bulgaria[128]
Burkina Faso[130][131]
Burundi[132][133]
Campuchia[128]
Cabo Verde[128]
Cộng hòa Trung Phi[128]
Tchad[128]
Chile[134]
Trung Quốc − Phiên bảnType 56.[135]
Comoros[128]
Cộng hòa Congo[128]
Cuba[128]
CHDC Congo[128]
Djibouti[136]
Ai Cập[128]
Guinea Xích Đạo[128]
Eritrea[128]
Ethiopia[128]
Phần Lan[137]
Gabon[128]
Gruzia[128]
Hy Lạp[138][139]
Guinée[128]
Guiné-Bissau[128]
Guyana[128]
Hungary[128]
Ấn Độ[128][140]
Indonesia[141]
Iran[128]
Iraq[127][128]
Israel[142]
Kazakhstan[128]
Kyrgyzstan[128]
Lào[128]
Liban[128]
Lesotho[128]
Liberia[128]
Libya[128]
Madagascar[128]
Mali[128]
Moldova[128]
Mông Cổ[128]
Maroc[128]
Mozambique[128]
Namibia[143]
Nicaragua[144]
CHDCND Triều Tiên − Phiên bản Type 58[128]
Bắc Macedonia[128][145]
Pakistan[146]
Perú[128]
Qatar[128]
România[128]
São Tomé và Príncipe[128]
Ả Rập Xê Út[147]
Serbia[128]
Seychelles[128]
Sierra Leone[128]
Somalia[128]
Sudan[128]
Suriname[128]
Syria[128]
Tajikistan[128]
Tanzania[128]
Thái Lan[148]
Togo[128]
Thổ Nhĩ Kỳ[128]
Turkmenistan[128]
Ukraina[128]
United States[149][150]
Uzbekistan[128]
Việt Nam[135]
Yemen[128]
Zambia[128]
Zimbabwe[128]
Các tổ chức phi quốc gia hiện tại
[sửa | sửa mã nguồn]
Al-Shabaab[151]
Boko Haram[151]
ELN[152]
Lực lượng Vũ trang Cách mạng Colombia[153]
Hamas[154]
Hezbollah[155]
Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant − Thu giữ từ Quân đội Syria[156]
Tổ chức Phòng vệ Quốc gia Karen[157]
Quân đội Giải phóng Quốc gia Karen[158]
Đảng Công nhân Kurdistan[159]
Phong trào Quốc gia Giải phóng Azawad[160]
Quân đội Nhân dân Mới[161]
Tổ chức Giải phóng Palestine[162]
Quân đội Giải phóng Quốc gia Ta'ang[163]
Trước đây
[sửa | sửa mã nguồn]
Đông Đức − MPi-K (AK-47) và MPi-KM (AKM)[164]
Grenada[165]
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[166] − Được chuyển giao cho nhà nước Việt Nam thống nhất[167]
Panamá − Sử dụng bởi Lực lượng Phòng vệ Panama[168]
Bồ Đào Nha − Sử dụng hạn chế các súng thu giữ được[169][b]
Rhodesia[170]
Liên Xô − Được thay thế bởi AKM và AK-74[171]
Việt Nam Cộng hòa − Các súng thu giữ được cấp phát cho các đơn vị địa phương quân của QLVNCH[172]
Các tổ chức phi quốc gia trước đây
[sửa | sửa mã nguồn]
Mujahideen Afghanistan − Được CIA cung cấp các biến thể của Ai Cập và Trung Quốc[173]
Cộng hòa Chechnya Ichkeria[174]
Contras[175][176]
Cộng hòa Nhân dân Donetsk[177]
Mặt trận Giải phóng Quốc gia Farabundo Martí[178]
Phiến quân Iraq[179]
Khmer Đỏ [180]
Hổ Giải phóng Tamil (LTTE)[181]
Cộng hòa Nhân dân Luhansk[177]
Quân đội Giải phóng Dân tộc Malaya[182]
Mặt trận Giải phóng Quốc gia Moro[183]
Liên minh phương Bắc[184]
Quân đội Cộng hòa Ireland Lâm thời − Được Libya cung cấp[185]
RENAMO[186]
Lực lượng Vũ trang Cách mạng Colombia (FARC)[152][187]
Phiến quân Sikh[188]
Phe đối lập Syria[189]
Việt Cộng[166]
Vigorous Burmese Student Warriors (VBSW)[190]
Xung đột
[sửa | sửa mã nguồn]Súng trường Ak-47 được xuất hiện trong các cuộc xung đột hoặc chiến tranh sau:
Lưu ý: Thông tin có thể sai hoặc thiếu sự kiện xung đột, chiến tranh, nội chiến.
- Thập niên 1940
- Thập niên 1950
- Thập niên 1960
- Khủng hoảng Congo (1960-1965)[192]
- Chiến tranh thuộc địa Bồ Đào Nha (1961-1974)[151]
- Chiến tranh du kích Rhodesia (1964-1979))[193]
- Xung đột vũ trang tại Bắc Ireland (cuối những năm 1960 - 1998)[185]
- Cuộc nổi dậy của Đảng Cộng sản Thái Lan (1965-1983)
- Chiến tranh biên giới Nam Phi (1966-1990)
- Xung đột Ấn Độ - Trung Quốc (1967)
- Nội chiến Campuchia (1968-1975)
- Cuộc nổi dậy của Đảng Cộng sản Malaysia (1968-1989)
- Xung đột Moro (1968-2019)[183]
- Thập niên 1970
- Chiến tranh Yom Kippur (1973)
- Nội chiến Ethiopia (1974-1991)[194]
- Chiến tranh Tây Sahara (1975-1991)
- Chiến tranh biên giới Việt Nam - Campuchia (1978-1989)
- Chiến tranh Chad - Libya (1978-1987)
- Chiến tranh biên giới Việt - Trung (1979)
- Xung đột Việt - Trung (1979-1991)
- Chiến tranh Liên Xô - Afghanistan (1979-1989)
- Thập niên 1980
- Cuộc nổi dậy của người Kurd ở Iran năm 1979
- Chiến tranh Iran - Iraq (1980-1988)
- Cuộc nổi dậy ở Jammu và Kashmir (1988-nay)[195]
- Nội chiến Sri Lanka (1983-2009)
- Chiến tranh Hoa Kỳ - Grenada (1983)[165][196]
- Xung đột Nam Lebanon (1985-2000)
- Cuộc nổi dậy của Quân đội Kháng chiến của Chúa (1987-nay)[197]
- Hoa Kỳ xâm lược Panamá (1989)
- Cuộc nổi dậy ở Punjab (1978-1995)
- Thập niên 1990
- Cuộc nổi dậy Đảng Dân chủ người Kurd ở Iran (1989-1996)
- Cuộc nổi dậy của người Tuareg (1990-1995)[198]
- Chiến tranh Vùng Vịnh (1990-1991)
- Nội chiến Somalia (1991-nay)
- Chiến tranh Nam Tư (1991-2001)
- Nội chiến Burundi (1993-2005)[199]
- Chiến tranh Chechnya lần thứ nhất (1994-1996)[174]
- Nội chiến Cộng hòa Congo (1997-1999)[200]
- Chiến tranh Kargil (1999)
- Chiến tranh Chechnya lần thứ hai (1999-2009)
- Thập niên 2000
- Chiến tranh Afghanistan (2001-2021)
- Chiến tranh Iraq (2003-2011)[201]
- Bạo loạn miền Nam Thái Lan (2004-nay)
- Chiến tranh ma túy México (2006-nay)
- Nội chiến Somalia (2009-nay)
- Thập niên 2010
- Nội chiến Libya (2011)
- Nội chiến Syria (2011-2024)
- Cuộc nổi dậy ở Irap (2011-2013)
- Nội chiến Cộng hòa Trung Phi (2012-nay))[202]
- Chiến tranh Mali (2012-nay)
- Chiến tranh Iraq (2013-2017)
- Chiến tranh Nga - Ukraina (2014-nay)
- Các cuộc đụng độ ở miền Tây Iran (2016-2023)
- Sau năm 2020
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Vũ khí dòng AK
[sửa | sửa mã nguồn]Khác
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ 2,6 lb được phay từ khối thép 6 lb. Khối lượng này nặng hơn khoảng 2,2 lb so với thân súng dập.
- ↑ "Một quan niệm sai lầm khá phổ biến là có nhiều binh sĩ Bồ Đào Nha đã sử dụng các loại vũ khí kiểu AK-47 thu giữ được, nhưng điều này chỉ diễn ra ở một số ít đơn vị tinh nhuệ cho các nhiệm vụ đặc biệt".[169]
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Monetchikov 2005, chpts. 6 and 7: (if AK-46 and AK-47 are to be seen as separate designs).
- ↑ Ezell, Edward Clinton (1986). The AK47 Story, Evolution of the Kalashnikov Weapons. Stackpole Books. tr. 112. ISBN 978-0-811709163.
- ↑ Poyer, Joe (2004). The AK-47 and AK-74 Kalashnikov Rifles and Their Variations. North Cape Publications inc. tr. 8. ISBN 1-882391-33-0.
- 1 2 НСД. 7,62-мм автомат АК 1967, tr. 161–162.
- ↑ НСД. 7,62-мм автомат АКМ (АКМС) 1983, tr. 149–150.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 "AKM (AK-47) Kalashnikov modernized rifle, caliber 7.62mm". Izhmash. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2014.
- 1 2 Kahaner, Larry (ngày 26 tháng 11 năm 2006). "Weapon Of Mass Destruction". The Washington Pos. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008.
- ↑ Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, trang 4, bản in năm 1996
- ↑ "АК и Stg". Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2024.
- ↑ Kahaner, Larry (2006). AK-47: The Weapon that Changed the Face of War. Wiley. ISBN 0471726419.
- ↑ "American civilians buy as many AK47s as the Russian military and police... and demand is surging because gun owners fear they will be banned". Mail Online. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015.
- 1 2 Hallock, Richard R. (ngày 16 tháng 3 năm 1970). "M16 Rifle Case Study. Prepared for the Presidents Blue Ribbon Defense Panel" (PDF). Pogoarchives.org. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2015.
- 1 2 McCarthy, Erin (ngày 12 tháng 10 năm 2010). "The AK-47: Questions About the Most Important Weapon Ever". Popular Mechanics. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2014.
- ↑ "Machine Carbine Promoted: M.P.43 Is Now 'Assault Rifle 44'". Tactical and Technical Trends (57). U.S. Military Intelligence Service. tháng 4 năm 1945. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2012 – qua LoneSentry.com.
- ↑ Rottman 2011, tr. 9.
- 1 2 Savka, Olga (ngày 2 tháng 8 năm 2003). "The History of Kalashnikov Gun". Pravda.ru. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015.
- ↑ Chivers, C. J. (tháng 2 năm 2006). "Mikhail Kalashnikov: The Father of 100 Million Rifles". Field & Stream. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015.
- 1 2 Johnson, Harold E. (tháng 9 năm 1973). Small Arms Identification and Operations Guide – Eurasian Communist Countries (PDF). U.S. Army Foreign Science and Technology Center of the U.S. Army Materiel Command. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016 – qua Virginia1774.org.
- ↑ Walsh, Nick Paton (ngày 10 tháng 10 năm 2003). "Mikhail Kalashnikov: 'I sleep soundly'". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2016.
- ↑ Kidd, Nadia (ngày 28 tháng 10 năm 2009). "Russia celebrates Mikhail Kalashnikov's 90th birthday – the designer who armed the world". Russia Beyond the Headlines. Rossiyskaya Gazeta. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015 – qua The Daily Telegraph.
- 1 2 "AK-47 Inventor Doesn't Lose Sleep Over Havoc Wrought With His Invention". Fox News. USA. ngày 6 tháng 7 năm 2007. OCLC 36334372. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2010.
- 1 2 Bolotin 1995, tr. 123–124.
- ↑ Fisk, Robert (ngày 22 tháng 4 năm 2001). "For Patriotism and Profit: An interview with Mikhail Kalashnikov". The Independent. London, England. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2016 – qua World Press Review (Vol.48, No.7).
- ↑ Bolotin 1995, tr. 123.
- ↑ Monetchikov 2005, tr. 38.
- ↑ Bolotin 1995a, tr. 150
- 1 2 Shilin, Val; Cutshaw, Charlie. "Mikhail Kalashnikov". Power Custom. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008.
- 1 2 Sweeney, Patrick (2010). The Gun Digest Book of The AR-15 (Vol. 3.). Iola, WI: Gun Digest Books. tr. 20. ISBN 978-1440213762.
- 1 2 Tilstra, Russell C. (2014). The Battle Rifle: Development and Use Since World War II. Jefferson, NC: McFarland. tr. 25–28. ISBN 978-0-78647-321-2.
- ↑ Bolotin 1995a, tr. 115
- ↑ Monetchikov 2005, tr. 36.
- 1 2 "Kalashnikov AK (AK-47) AKS, AKM and AKMS rifles (USSR)". World.guns.ru. ngày 25 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2013.
- ↑ Popenker, Maxim; Williams, Anthony G. (2005). Assault Rifle. Crowood Press. ISBN 978-1-86126-700-9.[cần số trang]
- ↑ McCollum, Ian (ngày 12 tháng 12 năm 2012). "AK and StG – Kissing Cousins". Forgotten Weapons. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2023.
- ↑ Monetchikov 2005, tr. 64.
- ↑ Monetchikov 2005, tr. 67; Bolotin 1995, tr. 129.
- 1 2 3 Poyer 2006, tr. 8–11.
- 1 2 3 Ezell, Edward (1986). The AK47 story: Evolution of the Kalashnikov Weapons. Stackpole Books. tr. 36. ISBN 978-0-8117-0916-3.
- ↑ "Russian AK-49". Forgotten Weapons. ngày 23 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2018.
- 1 2 3 4 "Type 2 & Type 3 AK-47". BrowningMGs.com. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Ezell, Edward Clinton (1986). The AK47 Story, Evolution of the Kalashnikov Weapons. Stackpole Books. tr. 113. ISBN 978-0-811-70916-3.
- ↑ Poyer 2006, tr. 2.
- ↑ Dunnigan, James (ngày 23 tháng 4 năm 2003). "An AK for Every Market". Strategypage.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2009.
- 1 2 3 4 5 6 Dockery, Kevin (2007). Future Weapons. New York: Berkley Caliber. tr. 102. ISBN 978-0-425-21750-4.
- ↑ Land Forces Weapons: Export Catalogue. Moscow: Rosoboronexport. 2003. tr. 85. OCLC 61406322. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2017 – qua Scribd.
- ↑ Bellamy, Ronald F. & Zajtchuk, Russ (1990). "The Physics and Biophysics of Wound Ballistics". Trong Zajtchuk, R. (biên tập). Textbook of Military Medicine, Part I: Warfare, Weaponry, and the Casualty, Vol. 5, Conventional Warfare: Ballistic, Blast, and Burn Injuries. Washington, DC: Office of the Surgeon General, U.S. Department of the Army. tr. 146–155.
- 1 2 Fackler, Martin L. "Patterns of Military Rifle Bullets". TTK Ciar's MBT Resources. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2012.
- ↑ Roberts, G.K. (ngày 21 tháng 5 năm 2008). "Time for a Change: U.S. Military Small Arms Ammunition Failures and Solutions" (PDF). National Defense Industrial Association. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2011.
- ↑ Fackler, M.L.; Malinowski, J.A.; Hoxie, S.W.; Jason, A. (tháng 9 năm 1990). "Wounding effects of the AK-47 rifle used by Patrick Purdy in the Stockton, California, schoolyard shooting of January 17, 1989". American Journal of Forensic Medicine and Pathology. 11 (3): 185–189. doi:10.1097/00000433-199009000-00001. PMID 2220700. S2CID 26582558.
- ↑ Bellamy, Ronald F. & Zajtchuk, Russ (1990). "The Physics and Biophysics of Wound Ballistics". Trong Zajtchuk, R. (biên tập). Textbook of Military Medicine, Part I: Warfare, Weaponry, and the Casualty, Vol. 5, Conventional Warfare: Ballistic, Blast, and Burn Injuries. Washington, DC: Office of the Surgeon General, U.S. Department of the Army. tr. 148 (Fig. 4–38).
- 1 2 3 Fackler, Martin L. "Military rifle bullet wound patterns". University Teachers for Human Rights (Jaffna), Sri Lanka. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014.
Taken from Lutz Möller English Rifle Articles
- ↑ Fackler, Martin L. "Military rifle bullet wound patterns comparison charts". Fr. Frog's Home Page. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014.
- ↑ 203d Military Intelligence Battalion. AK-47 Operator's Manual. U.S. Department of the Army.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - 1 2 3 4 5 6 Kokalis, Peter G. (tháng 5 năm 2005). "Kalashnikovs – 3 of the best" (PDF). Shotgun News. Quyển 59 số 12. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015 – qua ArsenalInc.com.
- 1 2 3 "AK 47 Technical Manual". Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014 – qua scribd.com.
- ↑ Rottman 2011, tr. 42.
- ↑ Thornton, Nathan (ngày 31 tháng 1 năm 2020). "Rifle 101: Replicating True Soviet/Russian Shellac Finish". International Sportsman. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "Identifying & Collecting the 7.62×39 AK-47/AKM Magazine". Small Arms Defense Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014.
- ↑ Polenar Tactical (ngày 7 tháng 5 năm 2014). "The many uses of an AK-47 magazine". YouTube. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015.
- 1 2 3 "AK 47 Technical Description – Manual". Scribd.com. ngày 30 tháng 9 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2012.
- ↑ "A Brief History of the Kalashnikov Magazine Part 1: Metal Magazines". The Firearm Blog. ngày 17 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Kokalis, Peter G. (tháng 5 năm 2005). "Kalashnikovs – 3 of the best" (PDF). Shotgun News. 59 (12). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012.
- ↑ Grezin, V. M. (1966). "Elastic characteristics of AG-4S glass-reinforced plastic under short-time and long-time loads". Polymer Mechanics. 2 (2): 188–190. Bibcode:1966PoMec...2..188G. doi:10.1007/BF00867112. ISSN 0032-390X. S2CID 135895271.
- 1 2 Kokalis, tr. 49
- ↑ ADA046961: Rifle Evaluation Study (PDF) (Báo cáo). United States Army, Combat Development Command. ngày 20 tháng 12 năm 1962. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015.
- ↑ David M., Fortier (ngày 20 tháng 7 năm 2011). "Are Kalashnikov magazines as robust as their reputation? He tormented a selection of AR magazines last year, now he takes on the AK. The results you may find surprising". Shotgun News. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014 – qua Free Library.
- ↑ Forgotten Weapons (ngày 26 tháng 9 năm 2022). Yugoslav M70A: The AK With a Real Magazine Holdopen. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025 – qua YouTube.
- ↑ Cobb, Ralph E. (2010). "AK Bayonets 101 – The Four Basic Types". WorldBayonets.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015.
- ↑ "40 mm underbarrel grenade launcher GP-34". Izhmash. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2012.
- ↑ Russian Close Combat Weapon. Moscow: Association "Defense Enterprises Assistance League". 2010. tr. 482–489. ISBN 978-5-904540-04-3.
- ↑ 203rd Military Intelligence Battalion. Operator's Manual for AK-47 Rifle (PDF). Department of the Army. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015 – qua ar15.com.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - ↑ "7.62 mm Kalashnikov assault rifles AK103, АК104". Izhmash. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2012.
- ↑ Monetchikov 2005, tr. 76.
- ↑ "AKML (AKMSL)". AK-info.ru (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2013.
- ↑ Ethan M. (ngày 20 tháng 4 năm 2015). "Albanian Small Arms". Aftermath Gun Club. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2017.
- ↑ "Khenchela Company of Mechanical Constructions (ECMK)". www.epicos.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Азербайджан приступил к серийному производству автоматов АК-74М по российской лицензии [Azerbaijan began serial production of AK-74M rifles under Russian license]. ЦАМТО (bằng tiếng Nga). Moscow: Centre for Analysis of World Arms Trade. ngày 8 tháng 7 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2011.
- ↑ Dimov, Roman. "Kalashnikov Arms Versions". The AK Site. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2007.
- 1 2 "Автомат (штурмовая винтовка) серии MPi-K / MPi-AK" [MPi-K / MPi-AK Assault Rifle Series]. Энциклопедия оружия и боеприпасов (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2013.
- ↑ "Advertisement flyer for manufacturing capabilities of the Gafat Armament Engineering Complex". EthiopiaBook.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2014.
- ↑ "Венгрия – Штурмовые винтовки / Автоматы" [Hungary – Assault Rifles / Submachine guns]. Энциклопедия оружия и боеприпасов [Encyclopedia of Arms and Ammunition] (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014.
- ↑ Unnithan, Sandeep (ngày 30 tháng 12 năm 2013). "Why General Kalashnikov couldn't sell the AK in India". India Today. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2015.
- ↑ "Assault Rifle 7.62 mm". Indian Ordnance Factory Board. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2010.
- ↑ "Bernardelli company profile and history". V. Bernardelli S.r.l. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2013.
- ↑ "Nigeria to mass-produce Nigerian version of AK-47 rifles". People's Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014.
- ↑ "Military Products". Defence Industry Corporation of Nigeria (DICON). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014.
- ↑ "Appendix A: Equipment Recognition, PPSH 1943 Submachinegun (Type-50 China/Model-49 DPRK)". North Korea Country Handbook. U.S. Department of Defense. 1997. tr. A-79.
- ↑ "Appendix A: Equipment Recognition, Type-68 (AKM) Rifle". North Korea Country Handbook. U.S. Department of Defense. 1997. tr. A-77.
- ↑ Chang, Andrei (ngày 16 tháng 11 năm 2009). "Russia confronts Pakistan, China over copied weapons". UPI Asia.com. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2011.
- ↑ "Poland: Assault Rifles". Энциклопедия оружия и боеприпасов (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2013.
- ↑ "MAZ". Military Industry Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009.
- ↑ Research, Conflict Armament (ngày 9 tháng 9 năm 2025). "North Korean weapons used in Islamic State prison breaks". ArcGIS StoryMaps. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "SAR 15T". www.sarsilmaz.com. Sarsılmaz Arms. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2024.
Manufacturer Website
- ↑ "SAR 308". www.sarsilmaz.com. Sarsılmaz Arms. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2024.
Manufacturer Website
- ↑ "AK-47 - Dağlıoğlu Savunma Sanayi | Dağlıoğlu Silah Av Tüfekleri" (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). ngày 1 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Raigorodetsky, Aleksandr (ngày 6 tháng 10 năm 2011). Автомат "Малюк" ("Малыш") (Украина) ["Malyuk" Assault Rifle (Ukraine)]. Оружейная экзотика (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2015.
- ↑ Sieff, Martin (ngày 15 tháng 8 năm 2007). "Defense Focus: Venezuela's Kalashnikovs". United Press International. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008.
- ↑ "Восточная Европа захватила рынок продаж автоматов Калашникова" [Eastern Europe captured the market for Kalashnikov assault rifles]. Lenta.ru (bằng tiếng Nga). ngày 13 tháng 6 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2006.
- ↑ "'Ижмаш' подсчитал контрафактные автоматы Калашникова" ['Izhmash' counted counterfeit Kalashnikov assault rifles]. Lenta.ru (bằng tiếng Nga). ngày 15 tháng 4 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2006.
- ↑ "The USA's M4 Carbine Controversy". Defense Industry Daily.com. ngày 21 tháng 11 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012.
- 1 2 "Avtomat Kalashnikov". Alpharubicon.com. tháng 3 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2012.
- 1 2 3 Chivers, C. J. (2011). The Gun. Simon & Schuster. tr. 206–207. ISBN 978-0743271738. Taken from the Long-Range Dispersion Firing Test of the AK-47 Rifle, U.S. Army Foreign Science and Technology Center, August 1969.
- ↑ Kjellgren, G. L. M. (tháng 3 năm 1970). "The Practical Range of Small Arms" (PDF). The American Rifleman. 118 (3): 40–44. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2015.
- ↑ НСД. 7,62-мм автомат АКМ (АКМС) 1983, tr. 155: (trong điều kiện mặc định không có gió và áp suất khí quyển ở mực nước biển, 15 °C (59 °F)).
- 1 2 Weaver, Jonathan M. Jr. (tháng 5 năm 1990). "System Error Budgets, Target Distributions and Hitting Performance Estimates for General-Purpose Rifles and Sniper Rifles of 7.62 × 51 mm and Larger Calibers" (PDF). Aberdeen Proving Ground, Maryland: U.S. Army Materiel Systems Analysis Activity. tr. 87. Technical Report No. 461. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2019.
- ↑ Instruction on small business 7,62- mm Kalashnikov (AK). Moscow: Military Publishing House of the Ministry of Defense of the USSR. 1967.
- ↑ Manual on small business. 7.62-mm modernized Kalashnikov assault rifle (AKM and AKMS). – 3rd ed. – Moscow: Military Publishing, 1983. – 160 p., Ill.
- 1 2 3 Seabrook, Andrea (ngày 26 tháng 11 năm 2006). "AK-47: The Weapon Changed the Face of War". NPR Weekend Edition Sunday. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2014.
- ↑ Jones, Christopher (ngày 20 tháng 12 năm 1981). "In The Land Of The Khmer Rouge". The New York Times Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2017.
- ↑ Solovyov, Dmitry (ngày 24 tháng 12 năm 2013). "AK-47 rifle inventor Mikhail Kalashnikov dies at 94". Reuters UK. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Abdullaev, Nabi (ngày 21 tháng 2 năm 2003). "Care for a Kalashnikov Umbrella?". The Moscow Times. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2014.
- ↑ "The AK 47 Kalashnikov Vodka Souvenir Bottle". Kalashnikov Vodka. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015.
- ↑ Hodge, Nathan (ngày 31 tháng 12 năm 2009). "Celebrate 2010 with a Kalashnikov!". Wired. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2017.
- ↑ "Kalashnikov Watches Swiss Made – Kalashnikov Uhren". Kalashnikov Watches - Ultralux Marketing AG. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Coming soon – the Kalashnikov brolly?". BBC News. ngày 17 tháng 2 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "EDC for CCW: Boker Kalashnikov Anniversary Knife". The Truth About Knives. tháng 6 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Boker Kalashnikov Knives". BladeHQ.com. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Chivers, C.J. (ngày 18 tháng 2 năm 2007). "AK-47 Museum: Homage to the Gun That Won the East". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2007.
- ↑ Bennetts, Marc (ngày 19 tháng 9 năm 2017). "30ft-high statue of Mikhail Kalashnikov unveiled in Moscow". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2017.
- ↑ Gordon, Michael R. (ngày 13 tháng 3 năm 1997). "Burst of Pride for a Staccato Executioner: AK-47". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2017.
- ↑ Oppenheimer, A. R. (2009). IRA: The Bombs and The Bullets. A History of Deadly Ingenuity. Newbridge, County Kildare: Irish Academic Press. ISBN 978-0-7165-2895-1.
- ↑ O'Toole, Fintan. "A History of Ireland in 100 Objects: Decommissioned AK-47 assault rifle, 2005". The Irish Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
- ↑ "Lord of War (2005) – memorable quotes". Internet Movie Database. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2012.
- ↑ Palou-Loverdos, Jordi & Armendáriz, Leticia. "The Privatization of Warfare, Violence and Private Military & Security Companies" (PDF). The International Institute for Nonviolent Action. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2021.
- ↑ Latorre, Héctor (ngày 24 tháng 1 năm 2006). "Escopetarras: disparando música". BBC Mundo (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2007.
- ↑ Muessig, Ben (ngày 10 tháng 8 năm 2010). "Narcocorridos: The Songs of Mexico's Drug War". AOL News. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2012.
- 1 2 Kahaner, Larry (ngày 26 tháng 11 năm 2006). "Weapon of Mass Destruction". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2010.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 Rottman 2011, tr. 78.
- ↑ Dale, Richard (1995). Botswana's Search for Autonomy in Southern Africa (bằng tiếng Anh). Greenwood Publishing Group. tr. 85. ISBN 978-0-313-29571-3.
- ↑ "Burkina : nouveau mouvement de colère des militaires à Ouagadougou" [Burkina: new angry movement of the soldiers in Ouagadougou]. Africa Defense Journal (bằng tiếng Pháp). ngày 24 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2013.
- ↑ Bationo, Arsène Flavien (tháng 10 năm 2012). "Burkina Faso: Ces Mesures Présidentielles Qui Font Plaisir à l'Armée" [Burkina Faso: The Presidential Measures Which Please the Army]. AfrikItalia.it (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2013.
- ↑ "Blending". Flickr. ngày 21 tháng 7 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2013.
- ↑ Burt, Geoff (ngày 22 tháng 10 năm 2010). "Latest edition of the SSR Monitor: Burundi focuses on armed forces reform". Security Sector Reform Resource Centre. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2013.
- ↑ Terry J., Gander; Hogg, Ian V. (1995). Jane's Infantry Weapons 1995–96 (ấn bản thứ 21). Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-1241-0. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2016.
- 1 2 Miller, David M. O. (2001). The Illustrated Directory of 20th Century Guns. Illustrated Directory Series. Salamander Books. ISBN 978-1-84065-245-1. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2016.
- ↑ Huffstutter, Robert (ngày 22 tháng 12 năm 2011). "Djiboutian Army Quick Reaction Regiment trains at Ali Oune, Djibouti, February 2011". Flickr. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2013.
- ↑ Kevytasekäsikirja 2019 [Small Arms Manual 2019] (PDF) (bằng tiếng Phần Lan). Finnish Defence Forces. 2019. ISBN 978-951-25-3060-1. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2019.
- ↑ Milosevic, Milan (2005). "Trojanski Konj za Teroriste". Kalibar (bằng tiếng Serbia). Novosti. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2009.
- ↑ "Greece Ministry of Public Order Press Office: Special Anti-Terrorist Unit" (PDF). Hellenic Police. tháng 7 năm 2004. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2009.
- ↑ "Maha's elite counter terror unit Force One becomes operational". Business Standard. New Delhi: Business Standard Ltd. ngày 25 tháng 11 năm 2009. OCLC 496280002. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2010.
- ↑ "Komando Pasukan Khusus (Kopassus)". Shadowspear.com. ngày 28 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2020.
- ↑ Jones, Richard D.; Ness, Leland S., biên tập (2009). Jane's Infantry Weapons 2009–2010 (ấn bản thứ 35). Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-2869-5.
- ↑ Menges, Werner (ngày 18 tháng 12 năm 2002). "Namibia: Soldier Claims Ignorance About AK-47 Used to Murder Farmer". The Namibian. Windhoek. Lưu trữ bản gốc 1 tháng 1 2003. Truy cập 13 tháng 7 2017.
- ↑ Jurado, Carlos Caballero (1990). Central American Wars 1959–89. Men-at-Arms 221. London: Osprey Publishing. tr. 20, 45. ISBN 978-0-85045-945-6.
- ↑ Nikolovski, Zoran (ngày 12 tháng 10 năm 2006). "Macedonian military police, US National Guard conduct joint manoeuvres". Southeast European Times. United States European Command. OCLC 731936128. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011.
- ↑ Hashim, Asad (ngày 4 tháng 2 năm 2019). "Darra Adam Khel: Pakistan's dying gun bazaar". Al Jazeera. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "UAE, Saudi Arabia Dispatch Troops to Syria". Syrian Observer. ngày 22 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2019.
- ↑ "Newly recruited Rangers practice with their AK-47 rifles during a training session at a military camp in Thailand's restive southern Narathiwat province". Getty Images. ngày 21 tháng 5 năm 2009.
- ↑ "AKs among U.S. Police Departments". The Firearm Blog. ngày 12 tháng 4 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "Why U.S. Commandos Loved the AK-47 Rifle". The National Interest. ngày 18 tháng 2 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2020.
- 1 2 3 Venter 2023, tr. 59.
- 1 2 "Violence, Crime And Illegal Arms Trafficking In Colombia" (PDF). United Nations Office on Drugs and Crime. tháng 11 năm 2006. tr. 26. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Acosta, Luis Jaime (ngày 21 tháng 8 năm 2024). "Meet the secretive Colombian guerrillas who could deal final blow to peace plan". Reuters. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Biesecker, Michael (ngày 15 tháng 1 năm 2024). "Hamas fights with a patchwork of weapons built by Iran, China, Russia and North Korea". AP News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Zagdanski 2007, tr. 32.
- ↑ "Islamic State Captures Masses of Iranian-supplied Weaponry Near Khanasir". bellingcat. ngày 16 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "Myanmar's Anti-Junta Protesters Turning to Rebel Armies for Military Training". Voice of America (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Tan, Rebecca (ngày 24 tháng 11 năm 2023). "In the jungle with Myanmar's oldest rebel group amid new threat to junta". Washington Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Reynolds, James; Erdim, Zeynep (ngày 25 tháng 4 năm 2013). "PKK fighters face life after Turkey withdrawal". BBC News. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Diallo, Tiemoko; Diarra, Adama (ngày 1 tháng 10 năm 2013). "Mali fights rebels in north as army officers protest in south". Reuters. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Meniano, Sarwell (ngày 6 tháng 9 năm 2024). "Another NPA arms cache unearthed in Samar". Philippine News Agency. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Tucker-Jones 2012, tr. 237.
- ↑ Watson, Ivan; Iqbal, Javed; Maung, Manny (ngày 11 tháng 11 năm 2015). "Myanmar's hidden war". CNN (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Tucker-Jones 2012, tr. 131.
- 1 2 Florence 1983, tr. 31.
- 1 2 Tucker-Jones 2012, tr. 75.
- ↑ Jones & Ness 2010, tr. 917.
- ↑ Hasenauer 1990, tr. 51.
- 1 2 Venter 2023, tr. 61.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "PTW" - ↑ Miller, D. M. O. (2001). Illustrated Directory of Twentieth Century Guns. Salamander. ISBN 978-1-84065-245-1.
- 1 2 Lanning 2011, tr. 125.
- ↑ Tucker-Jones 2012, tr. 78−79.
- 1 2 German 2003, tr. 58.
- ↑ Binder 1987, tr. 25.
- ↑ Bracamonte & Spencer 1995, tr. 182.
- 1 2 "Hundreds of foreign fighters join pro-Russian rebels in eastern Ukraine". ABC News. ngày 21 tháng 9 năm 2015.
- ↑ Bracamonte & Spencer 1995, tr. 180.
- ↑ Tucker-Jones 2012, tr. 186,193,210.
- ↑ "Violations Of The Laws Of War By The Khmer Rouge" (PDF). Human Rights Watch. tháng 4 năm 1990. tr. 7−8, 10. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Desmond, Edward W. (ngày 16 tháng 9 năm 1991). "Sri Lanka's Tamil Tigers". TIME (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2024.
- 1 2 Tucker-Jones 2012, tr. 21.
- 1 2 Morea 2008, tr. 42.
- ↑ Tucker-Jones 2012, tr. 161.
- 1 2 Horgan & Braddock 2012, tr. 179.
- ↑ Moorcraft 1987, tr. 43,45.
- ↑ Felbab-Brown 2009, tr. 82.
- ↑ Shani, Giorgio; Singh, Gurharpal, biên tập (2021), "Militancy, Antiterrorism and the Khalistan Movement, 1984–1997", Sikh Nationalism, New Approaches to Asian History, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 132–162, doi:10.1017/9781316479940.008, ISBN 978-1-107-13654-0, truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2025
- ↑ Bender, Jeremy (ngày 11 tháng 4 năm 2016). "Here's a look at the weapons the US is sending to Syrian rebels". Business Insider. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "Vigorous Burmese Student Warriors". Federation of American Scientists. ngày 24 tháng 1 năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Chivers, Christopher (2010). The Gun. tr. 225–226. ISBN 9780743271738.
- ↑ "Simba uprising 1964–1965; mercenary with captured AK-47, December 1964". AKG Images. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2023.
- ↑ Abbott, Peter; Botham, Philip (1986). Modern African Wars (1): Rhodesia 1965–80. Men-at-Arms 183. Osprey Publishing. tr. 10. ISBN 978-0-85045-728-5.
- ↑ Scarlata, Paul (ngày 1 tháng 3 năm 2009). "Ethiopian Military Rifle Cartridges: Part 2: from Mauser to Kalashnikov". Shotgun News. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2018.
- ↑ Kanwal, Gurmeet (tháng 4 năm 1999). "Proxy War in Kashmir: Jehad or State-Sponsored Terrorism?". Strategic Analysis. XXIII (1): 4 – qua Proxy War in Kashmir: Jehad or State-Sponsored Terrorism?.
- ↑ "Soviet made AK-47 assault rifles seized during Operation Urgent Fury. On the top of the pile of weapons is the barrel attachment to a 7.62 mm machine gun". The U.S. National Archives. ngày 25 tháng 10 năm 1983. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2019.
- ↑ Small Arms Survey (2007). "Persistent Instability: Armed Violence and Insecurity in South Sudan" (PDF). The Small Arms Survey 2007: Guns and the City. Cambridge University Press. tr. 325. ISBN 978-0-521-88039-8. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018.
- ↑ Small Arms Survey (2005). "Sourcing the Tools of War: Small Arms Supplies to Conflict Zones". Small Arms Survey 2005: Weapons at War. Oxford University Press. tr. 166. ISBN 978-0-19-928085-8. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018.
- ↑ Small Arms Survey (2007). "Armed Violence in Burundi: Conflict and Post-Conflict Bujumbura" (PDF). The Small Arms Survey 2007: Guns and the City. Cambridge University Press. tr. 204. ISBN 978-0-521-88039-8. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018.
- ↑ Small Arms Survey (2003). "Making the Difference?: Weapon Collection and Small Arms Availability in the Republic of Congo". Small Arms Survey 2003: Development Denied. Oxford University Press. tr. 268. ISBN 0199251754. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018.
- ↑ Tucker-Jones 2012, tr. 105.
- ↑ Touchard, Laurent (ngày 17 tháng 12 năm 2013). "Centrafrique : le Soudan a-t-il armé les ex-Séléka ?". Jeune Afrique (bằng tiếng Pháp). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2019.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- Bracamonte, José Angel Moroni; Spencer, David E. (1995). Strategy and Tactics of the Salvadoran FMLN Guerrillas – Last Battle of the Cold War, Blueprint for Future Conflicts. Bloomsbury Academic. ISBN 9780275950187.
- Binder, L. James, biên tập (tháng 5 năm 1987). "On the Ramparts in Central America". Army. 37 (5). Arlington, VA: Association of the United States Army: 18−40. ISSN 0004-2455. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2024.
- Bolotin, David Naumovich (1995). История советского стрелкового оружия и патронов [The History of Soviet Small Arms and Ammunition] (PDF). Voyenno-Istoricheskaya Biblioteka (bằng tiếng Nga). Saint Petersburg: Poligon. ISBN 5-85503-072-5. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022.
- Bolotin, David Naumovich (1995a). Walter, John; Pohjolainen, Heikki (biên tập). Soviet Small Arms and Ammunition. Igor F. Naftul'eff biên dịch. Hyvinkää: Finnish Arms Museum Foundation (Suomen asemuseosäätiö). ISBN 9519718419.
- Felbab-Brown, Vanda (2009). Shooting Up: Counterinsurgency and the War on Drugs (bằng tiếng Anh). Rowman & Littlefield. ISBN 978-0-8157-0450-8.
- Florence, John, biên tập (1983). "A Caribbean Arms Cache". Engineer. 13 (4). Fort Belvoir, VA: United States Army Engineer Center: 31. ISSN 0046-1989. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2024.
- German, Tracey C. (2003). Russia's Chechen War (bằng tiếng Anh). Routledge. ISBN 978-1-134-43250-9.
- Gulevich, I. D., biên tập (1967). НСД. 7,62-мм автомат АК [7.62 mm AK] (bằng tiếng Nga) (ấn bản thứ 3). Moscow: Voenizdat.
- Hasenauer, Heike (tháng 12 năm 1990). "Panama − One Year Later". Soldiers (bằng tiếng Anh). 45 (12). Alexandria, VA: Department of the Army: 50−52. ISSN 0093-8440. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2024.
- Horgan, John; Braddock, Kurt (2012). Terrorism Studies: A Reader (bằng tiếng Anh). Routledge. ISBN 978-0-415-45504-6.
- Jones, Richard D; Ness, Leland S, biên tập (2010). Jane's Infantry Weapons 2010–2011 (bằng tiếng Anh). Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-2908-1.
- Lanning, Col Michael Lee (2011). Inside the LRRPs: Rangers in Vietnam (bằng tiếng Anh). Random House Publishing Group. ISBN 978-0-307-80146-3.
- Monetchikov, Sergei Borisovich (2005). История русского автомата [The History of Russian Assault Rifle]. Entsiklopediya Russkoi Armii (bằng tiếng Nga). Izdatel'stvo "Atlant 44". ISBN 5-98655-006-4. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2013.
- Moorcraft, Paul L. (tháng 4 năm 1987). "The Savage, Silent War". Army. 37 (4). Arlington, VA: Association of the United States Army: 42−52. ISSN 0004-2455. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2024.
- Morea, Major Gary J. (May–June 2008). "From Enduring Strife to Enduring Peace in the Philippines" (PDF). Military Review. 88 (3). Fort Leavenworth, KS: US Army Command and General Staff College: 38−48. ISSN 0026-4148. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2024.
- Poyer, Joe (2006). The AK-47 and AK-74 Kalashnikov Rifles and Their Variations: A Shooter's and Collector's Guide. North Cape Publications. ISBN 978-1-882391-41-7.
- Rottman, Gordon (2011). The AK-47: Kalashnikov-series assault rifles. Osprey Publishing. ISBN 978-1-84908-835-0. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2013.
- Tucker-Jones, Anthony (2012). Kalashnikov in Combat (bằng tiếng Anh). Casemate Publishers. ISBN 978-1-78303-858-9.
- Venter, Al J. (2023). Portugal's Bush War in Mozambique (bằng tiếng Anh). Casemate. ISBN 978-1-61200-937-7.
- Vilchinsky, I. K., biên tập (1983). НСД. 7,62-мм автомат АКМ (АКМС) [7.62 mm AKM (AKMS)] (PDF) (bằng tiếng Nga) (ấn bản thứ 3). Moscow: Voenizdat. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2023.
- Zagdanski, Captain Jonathan D. (September–October 2007). Eno, Russel A (biên tập). "Round 2 in Lebanon: How the IDF Focused on COIN and Lost the Ability to Fight Manuever War". Infantry (bằng tiếng Anh). 96 (5). Fort Benning, GA: U.S. Army Infantry School: 32−35. ISSN 0019-9532. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2024.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- АК-47 Museum Lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2011 tại Wayback Machine virtual tour