Jørn Andersen
|
Andersen trên cương vị huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ Austria Salzburg vào năm 2015 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Ngày sinh | 3 tháng 2, 1963 | ||
| Nơi sinh | Fredrikstad, Na Uy | ||
| Vị trí | Tiền đạo cắm | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| 1975–1982 | Østsiden IL | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 1982–1984 | Fredrikstad FK | 64 | (25) |
| 1985 | Vålerenga IF | 22 | (23) |
| 1985–1988 | 1. FC Nürnberg | 78 | (28) |
| 1988–1990 | Eintracht Frankfurt | 54 | (20) |
| 1990–1991 | Fortuna Düsseldorf | 42 | (5) |
| 1991–1994 | Eintracht Frankfurt | 44 | (13) |
| 1994–1995 | Hamburger SV | 18 | (1) |
| 1995 | Dynamo Dresden | 7 | (0) |
| 1995–1997 | FC Zürich | 53 | (2) |
| 1997–1999 | FC Lugano | 43 | (2) |
| 1999–2001 | FC Locarno | 29 | (0) |
| Tổng cộng | 454 | (119) | |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 1985–1990 | Na Uy | 27 | (5) |
| Sự nghiệp huấn luyện | |||
| Năm | Đội | ||
| 2001–2003 | U-21 FC Luzern | ||
| 2003–2004 | Rot-Weiß Oberhausen | ||
| 2005–2006 | Borussia Mönchengladbach (trợ lý) | ||
| 2007 | Skoda Xanthi | ||
| 2007–2008 | Kickers Offenbach | ||
| 2008–2009 | Mainz 05 | ||
| 2010–2011 | AEL | ||
| 2011–2012 | Karlsruher SC | ||
| 2015 | Austria Salzburg | ||
| 2016–2018 | Triều Tiên | ||
| 2018–2019 | Incheon United | ||
| 2021–2024 | Hồng Kông | ||
| 2024–2025 | Vân Nam Ngọc Côn | ||
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia | |||
Jørn Andersen (sinh ngày 3 tháng 2 năm 1963), đôi khi tên anh còn được viết là Jörn, là một huấn luyện viên bóng đá chuyên nghiệp và cựu cầu thủ bóng đá người Na Uy.
Sự nghiệp câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]Na Uy
[sửa | sửa mã nguồn]Sinh ra ở Fredrikstad, sự nghiệp bóng đá của Andersen bắt đầu ở đội bóng địa phương Østsiden nơi anh gắn bó cho đến năm 1982. Sau đó, anh chuyển đến Fredrikstad và ghi bảy bàn sau 43 lần ra sân tại Norwegian Premier League. Tiền đạo này được chuyển đến Vålerenga trước mùa giải 1985. Andersen đã có thể ghi 23 bàn chỉ sau 22 trận cho đội bóng đến từ Oslo này.
Đức
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1985, 1. FC Nürnberg đã ký hợp đồng với cầu thủ người Na Uy. Trong 78 trận đấu, Andersen ghi được 28 bàn thắng trước khi chuyển đến Eintracht Frankfurt. Vào năm 1990, Andersen trở thành cầu thủ nước ngoài đầu tiên giành danh hiệu vua phá lưới trong một mùa giải với 18 bàn thắng tại Bundesliga.[1] Vào mùa giải 1990–91, Andersen chơi cho Fortuna Düsseldorf và sau đó trở lại Frankfurt. Sau đó, anh gia nhập câu lạc bộ Hamburger SV vào mùa giải 1994–95 và Dynamo Dresden để quay trở lại thi đấu tại Bundesliga.[2]
Thụy Sĩ
[sửa | sửa mã nguồn]Từ Dresden, Andersen đến Thụy Sĩ và gia nhập câu lạc bộ FC Zürich vào năm 1995, nhưng anh không thành công khi chỉ ghi được hai bàn thắng trong 33 lần ra sân. Sau mùa giải 1997–98, anh rời câu lạc bộ FC Lugano để gia nhập câu lạc bộ FC Locarno.
Sự nghiệp quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]Andersen ra mắt đội tuyển bóng đá quốc gia Na Uy vào năm 1985 và có 27 lần khoác áo đội tuyển, ghi được 5 bàn thắng.[3] Trận đấu cuối cùng của anh cho đội tuyển quốc gia là trận đấu thuộc khuôn khổ vòng loại UEFA Euro 1992 gặp Hungary vào tháng 10 năm 1990, khi anh vào sân thay người cho Mini Jakobsen.
Sự nghiệp huấn luyện
[sửa | sửa mã nguồn]Những năm tháng ở châu Âu
[sửa | sửa mã nguồn]Andersen trở thành huấn luyện viên đội trẻ của FC Luzern và sau đó ông quay lại Đức để dẫn dắt đội bóng hạng hai lúc bấy giờ là Rot-Weiß Oberhausen từ năm 2003 đến năm 2004. Sau đó, ông làm trợ lý cho huấn luyện viên trưởng Horst Köppel tại câu lạc bộ Borussia Mönchengladbach.
Tháng 5 năm 2007, ông ký hợp đồng với đội bóng hàng đầu Hy Lạp Skoda Xanthi để dẫn dắt họ đến năm 2008, nhưng đến tháng 6 năm 2007 hợp đồng bị chấm dứt vì lý do cá nhân.
Cuối năm 2007, ông ký hợp đồng với Kickers Offenbach đang gặp khó khăn ở 2. Bundesliga, nhưng ông lại không thể giúp họ trụ hạng.

Vào ngày 20 tháng 5 năm 2008, ông ký hợp đồng hai năm với câu lạc bộ Mainz 05 tại 2. Bundesliga. Dưới thời ông dẫn dắt, đội bóng đứng thứ hai tại giải đấu và giành quyền thăng hạng lên chơi tại Bundesliga.
Vào tháng 12 năm 2010, ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của câu lạc bộ AEL tại Super League Greece.[4] Sau 24 ngày dẫn dắt, đội bóng thua ba trận ở giải vô địch quốc gia và bị loại khỏi cúp quốc gia mà không ghi được bàn thắng nào, ông đã bị sa thải.[5]
Sáu tháng sau, Andersen trở lại Đức để dẫn dắt câu lạc bộ đến từ giải hạng hai là Karlsruher SC.[6] Trong cương vị lần này, ông đã trao cơ hội ra mắt đội một cho cầu thủ trẻ Hakan Çalhanoğlu.
Andersen trở thành huấn luyện viên của câu lạc bộ Austria Salzburg vào ngày 2 tháng 1 năm 2015.[7]
Chuyển đến châu Á
[sửa | sửa mã nguồn]Triều Tiên
[sửa | sửa mã nguồn]Sau khi rời Austria Salzburg vào tháng 12 năm 2015, Andersen được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của đội tuyển bóng đá quốc gia Triều Tiên vào tháng 5 năm 2016.[8] Đây là lần đầu tiên Triều Tiên bổ nhiệm một huấn luyện viên nước ngoài kể từ năm 1993. Năm 2018, ông rời Triều Tiên sau hai năm làm việc với đội tuyển.[9]
Vào tháng 3 năm 2018, ông được cho là có liên hệ với đội tuyển bóng đá quốc gia Hồng Kông, nhưng cuối cùng ông đã không nhận công việc này.[10]
Vào tháng 6 năm 2018, ông được công bố là huấn luyện viên trưởng mới của câu lạc bộ Incheon United tại K-League của Hàn Quốc.[11] Ông bị sa thải vào ngày 15 tháng 4 năm 2019 khi Incheon đang đứng cuối bảng xếp hạng sau khi chỉ giành được bốn điểm sau bảy trận đấu.[12]
Hồng Kông
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 12 năm 2021, Andersen được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của đội tuyển bóng đá quốc gia Hồng Kông, thay thế cho Mixu Paatelainen.[13]
Tháng 6 năm 2022, ông dẫn dắt đội tuyển Hồng Kông đến với Cúp bóng đá châu Á 2023 sau 55 năm chờ đợi kể từ lần gần nhất vào năm 1968.[14]
Ông cũng dẫn dắt U-23 Hồng Kông tham dự Đại hội Thể thao châu Á 2022, nơi họ đạt được một cột mốc quan trọng khi đánh bại U-23 Iran, đội từng bốn lần vô địch. Chiến thắng này giúp cho họ có được lần đầu tiên trong lịch sử lọt vào đến bán kết của một kỳ Đại hội Thể thao châu Á.[15]
Vào ngày 1 tháng 1 năm 2024, Andersen đã dẫn dắt Hồng Kông giành chiến thắng lịch sử, đánh bại Trung Quốc với tỷ số 2–1 trong một trận giao hữu quốc tế. Chiến thắng này đánh dấu chiến thắng đầu tiên sau 39 năm trong lịch sử đối đầu giữa Hồng Kông trước Trung Quốc.[16]
Trung Quốc
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 12 tháng 6 năm 2024, ông được chọn làm huấn luyện viên trưởng của câu lạc bộ China League One Vân Nam Ngọc Côn và ký hợp đồng 18 tháng với câu lạc bộ.[17]
Vào ngày 6 tháng 10, ông đã giúp cho Vân Nam giành quyền thăng hạng đến với Giải bóng đá siêu cấp Trung Quốc sớm 4 vòng đấu.[18]
Đời tư
[sửa | sửa mã nguồn]Ông là con trai của cầu thủ bóng ném Bjørg Andersen.[19]
Andersen trở thành công dân Đức vào năm 1993. Con trai ông, Niklas Andersen, cũng là một cựu cầu thủ bóng đá từng thi đấu tại Bundesliga. Andersen đã kết hôn và sống ở Bad Reichenhall, Bavaria, Đức.[20]
Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]Cá nhân
- Vua phá lưới Norwegian Premier League: 1985
- Vua phá lưới Bundesliga: 1990
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Ballesteros, Frank; Arnhold, Matthias (ngày 21 tháng 4 năm 2011). "(West) Germany – Top Scorers". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2011.
- ↑ Arnhold, Matthias (ngày 21 tháng 4 năm 2011). "Jørn Andersen – Matches and Goals in Bundesliga". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2011.
- ↑ "Norway – Record International Players". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010.
- ↑ "Jørn Andersen fikk trenerjobb i Hellas" (bằng tiếng Na Uy). aftenposten.no. ngày 21 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ 22 tháng 3 2012. Truy cập 21 tháng 12 2010.
- ↑ "Jörn Andersen nach 24 Tagen entlassen" (bằng tiếng Đức). spiegel.de. ngày 9 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2011.
- ↑ "Andersen übernimmt den KSC" [Andersen takes over KSC] (bằng tiếng Đức). DFL. ngày 6 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2011.
- ↑ "Däne Andersen übernimmt Austria Salzburg" (bằng tiếng Đức). Österreich. ngày 2 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015.
- ↑ "NRK: Jørn Andersen ny landslagstrener for Nord-Korea". vg.no (bằng tiếng Na Uy). VG. ngày 11 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016.
- ↑ "As economic sanctions bite, North Korea football coach Jorn Andersen departs". ngày 31 tháng 3 năm 2018.
- ↑ "Jørn Andersen nær ny trenerjobb". TV2.no. ngày 28 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2021.
- ↑ "인천유나이티드". ngày 12 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Incheon United terminate contract of Norwegian coach Andersen". Yonhap News Agency. ngày 15 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2019.
- ↑ "HKFA appoints Mr. Jörn Andersen as Head Coach". HKFA. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Hong Kong can dare to dream after reaching Asian Cup for first time since 1968". ngày 14 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "Hong Kong men's football team rewarded HK$850,000 for best-ever finish at Asiad". The Standard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "Andersen hails Hong Kong's 'aggression' in historic win over China". South China Morning Post (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "官方:前中国香港主教练安德森执教中甲领头羊云南玉昆" (bằng tiếng Trung). Dongqiudi. ngày 12 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "中甲 港足前主帥安達臣率雲南玉昆升班 提前4輪鎖定中超席位" (bằng tiếng Trung). HK01. ngày 7 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Henriksen, Petter (biên tập). "Jørn Andersen". Store norske leksikon (bằng tiếng Na Uy). Oslo: Kunnskapsforlaget. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010.
- ↑ OVB24 GmbH (publisher) (ngày 15 tháng 7 năm 2014). "Fußball-Camp mit Jörn Andersen". rosenheim24.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2015.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Jørn Andersen tại fussballdaten.de (bằng tiếng Đức)
- Jørn Andersen tại National-Football-Teams.com
- Jørn Andersen Interview
- Sinh năm 1963
- Nhân vật còn sống
- Công dân nhập quốc tịch Đức
- Cầu thủ bóng đá Na Uy
- Tiền đạo bóng đá nam
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Na Uy
- Cầu thủ bóng đá 1. FC Nürnberg
- Cầu thủ bóng đá Eintracht Frankfurt
- Cầu thủ bóng đá Hamburger SV
- Huấn luyện viên bóng đá Na Uy
- Cầu thủ bóng đá FC Lugano
- Cầu thủ bóng đá FC Zürich
- Cầu thủ bóng đá Eliteserien
- Cầu thủ bóng đá Bundesliga
- Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Thụy Sĩ
- Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Đức