close
Bước tới nội dung

Kh-58

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Kh-58
(Ký hiệu NATO: AS-11 'Kilter')
Kh-58U tại Bảo tàng Không quân Ukraine
LoạiTên lửa chống bức xạ phóng từ máy bay
Nơi chế tạoLiên Xô/Nga
Lược sử hoạt động
Phục vụ1982–nay[1]
Sử dụng bởiNga, Ấn Độ, Algeria, Iran[1]
Trận
Lược sử chế tạo
Năm thiết kếThập niên 1970
Nhà sản xuấtRaduga NPO
Thông số
Khối lượng650 kg (1.430 lb)[4]
Chiều dài480 cm (15 ft 9 in)[4]
Đường kính38 cm (15,0 in)[4]
Đầu nổThuốc nổ mạnh (HE)[1]
Trọng lượng đầu nổ149 kg (328 lb)[4]

Động cơTên lửa nhiên liệu rắn[1]
Sải cánh117 cm (46,1 in)[4]
Tầm hoạt độngKh-58: lên đến 120 km (65 nmi)
Kh-58U: 250 km (130 nmi)[1]
Kh-58E: 46–200 km (25–110 nmi)[4]
Tốc độMach 3.6
Hệ thống chỉ đạoQuán tính kết hợp với đầu dò radar thụ động[1]
Nền phóngSu-24M,[1] Mig-25BM,[1] Su-22M4,[4] Su-25TK,[4] Su-30MK,[5] Su-57E

Kh-58 (tiếng Nga: Х-58; Ký hiệu NATO: AS-11 'Kilter') là một loại tên lửa chống bức xạ của Liên Xô với tầm bắn 120 km. Tính đến năm 2004, biến thể Kh-58U vẫn là tên lửa diệt bức xạ chủ lực của Nga và các quốc gia đồng minh.[1] Hiện nay, loại tên lửa này đang dần được thay thế bởi dòng Kh-31. Tên ký hiệu của NATO cho loại tên lửa này là "Kilter".

Phát triển

[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng thiết kế Bereznyak đã từng phát triển các dòng tên lửa diệt bức xạ sử dụng nhiên liệu lỏng là Kh-28 (AS-9 ‘Kyle’) và KSR-5P (AS-6).[5] Sau khi sáp nhập với Raduga vào năm 1967, Raduga đã được trao hợp đồng vào đầu thập niên 1970 để phát triển một phiên bản kế nhiệm sử dụng nhiên liệu rắn cho Kh-28, nhằm trang bị cho loại máy bay cường kích mới Su-24M 'Fencer-D'.[5] Hệ quả là dự án ban đầu được ký hiệu là Kh-24, trước khi chính thức trở thành Kh-58.[cần dẫn nguồn]

Trong thập niên 1980, một biến thể tầm xa hơn đã được phát triển là Kh-58U, với khả năng khóa mục tiêu sau khi phóng (lock-on-after-launch). Kể từ khi Liên Xô tan rã, Raduga đã giới thiệu thêm nhiều phiên bản khác nhau phục vụ mục đích xuất khẩu.[5]

Thiết kế

[sửa | sửa mã nguồn]

Kh-58 được thiết kế để sử dụng kết hợp với hệ thống chỉ thị mục tiêu L-086A "Fantasmagoria A" hoặc L-086B "Fantasmagoria B" trên máy bay Su-24.[1] Tầm bắn đạt được phụ thuộc rất lớn vào độ cao khi phóng; theo đó, biến thể Kh-58 nguyên bản có tầm bắn 36 km khi phóng ở độ cao thấp, 120 km khi phóng từ độ cao 10.000 m (32.800 ft) và đạt tới 160 km nếu phóng từ độ cao 15.000 m (49.200 ft).[1]

Giống như các loại tên lửa khác của Liên Xô thời bấy giờ, Kh-58 có thể được lắp đặt nhiều loại đầu dò khác nhau, được thiết kế để nhắm vào các đài radar phòng không cụ thể như MIM-14 Nike-Hercules hoặc MIM-104 Patriot.[5]

Lịch sử hoạt động

[sửa | sửa mã nguồn]

Kh-58 bắt đầu được triển khai vào năm 1982 trên các máy bay Su-24M 'Fencer D' trong biên chế quân đội Liên Xô.[1] Biến thể Kh-58U đưa vào phục vụ năm 1991 trên Su-24M và MiG-25BM 'Foxbat-F'.[1] Phiên bản Kh-58E cũng có thể được mang theo trên máy bay Su-22M4 và Su-25TK,[4] trong khi biến thể Kh-58UShE dường như được thiết kế dành cho các máy bay Su-30MKK của Trung Quốc.[5]

Tên lửa Kh-58U được sử dụng lần đầu trong thực chiến vào tháng 11 năm 1987 bởi các máy bay MiG-25BM của Iraq trong Chiến tranh Iran-Iraq chống lại các trận địa tên lửa MIM-23B Hawk của Iran, vô hiệu hóa ít nhất một đài radar. Vào tháng 7 năm 1988, lực lượng Iraq đã sử dụng các tên lửa Kh-58U và Kh-31P nâng cấp để tấn công các hệ thống radar cảnh giới sớm tầm xa băng tần thấp ADS-4 của Westinghouse (Iran), tiêu diệt thành công một trạm radar tại Subashi bằng hai quả tên lửa.[2]

Vào tháng 8 năm 2007, một quả tên lửa Kh-58 của Nga đã được phóng vào một trạm radar của Gruzia gần thị trấn Tsitelubani nhưng trượt và không phát nổ.[6][7] Trong cuộc Chiến tranh Nga–Gruzia năm 2008, quân đội Nga đã không sử dụng tên lửa chống bức xạ. Nguyên nhân có thể do lực lượng phòng không Gruzia đã tắt các hệ thống radar cho đến khi máy bay Nga lọt vào tầm bắn mới bật lên đủ lâu để khóa và bắn mục tiêu; đồng thời Không quân Nga có thể đã thiếu tin tưởng vào khả năng của các tên lửa chống bức xạ sau sự cố tên lửa năm 2007.[6]

Kh-58 cũng đã được sử dụng trong cuộc chiến tại Ukraine bắt đầu từ năm 2022. Theo các nguồn tin cấp cao từ Không quân Ukraine, một số hệ thống 9K33 Osa9K37 Buk đã bị phá hủy bởi các tên lửa Kh-31P và Kh-58 trong cuộc chiến này.[3]

Các biến thể

[sửa | sửa mã nguồn]
Kh-58UShKE
  • Kh-58 (Izdeliye 112) - Phiên bản gốc dành cho máy bay Su-24M.
  • Kh-58U - Phiên bản cải tiến với tầm bắn xa hơn và khả năng khóa mục tiêu sau khi phóng.
  • Kh-58E - Phiên bản xuất khẩu của Kh-58U,[1] được giới thiệu lần đầu vào năm 1991.[5]
  • Kh-58EM - Một phiên bản khác phục vụ mục đích xuất khẩu trong thập niên 1990.[5]
  • Kh-58UShE (Uluchshennaya Shirokopolosnaya Exportnaya - nghĩa là 'Cải tiến, Băng rộng, Xuất khẩu') - Trang bị đầu dò băng rộng mới trong chóp che radar mới, được thiết kế cho máy bay Su-30MK.[5]
  • Kh-58UShKE - Biến thể với các vây (cánh) có thể gấp gọn để chứa trong khoang vũ khí của máy bay Sukhoi Su-57, ra mắt lần đầu tại triển lãm MAKS 2007.[8][9]
  • Kh-58UShKE(TP) - Biến thể được bổ sung thêm đầu dò hồng ngoại ảnh nhiệt (IIR), ra mắt lần đầu tại MAKS 2015.[10]

Một số nguồn phương Tây từng đề cập đến một biến thể mang tên Kh-58A, được cho là đã tối ưu hóa để chống lại radar hải quân hoặc trang bị đầu dò chủ động để sử dụng như một tên lửa diệt hạm - tuy nhiên, đây có khả năng chỉ là một tên gọi khác của phiên bản Kh-58U.[cần dẫn nguồn]

Các quốc gia vận hành

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ các quốc gia vận hành Kh-58 với màu xanh dương là các quốc gia hiện đang sử dụng và màu đỏ là các quốc gia từng sử dụng

Các quốc gia hiện đang vận hành

[sửa | sửa mã nguồn]
 Belarus
  • Không quân Belarus[11]
 Ấn Độ
 Iran
  • Không quân Cộng hòa Hồi giáo Iran[12]:327
 Kazakhstan
  • Lực lượng Phòng không Kazakhstan[12]:180
 Nga
 Uzbekistan
  • Lực lượng Không quân và Phòng không Uzbekistan[12]:206

Các quốc gia từng vận hành

[sửa | sửa mã nguồn]
 Iraq
  • Không quân Iraq[13]
 Liên Xô
 Ukraine
  • Không quân Ukraine[14]:196

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 Staff of Journal of Electronic Defense (2004), International Electronic Countermeasures Handbook, Artech House, tr. 149–150, ISBN 9781580538985
  2. 1 2 Cooper, Tom; Bishop, Farzad (ngày 20 tháng 11 năm 2012). Iranian F-14 Tomcat Units in Combat (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. tr. 74–75. ISBN 978-1-78200-761-6. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2023.
  3. 1 2 Williams, Ian (ngày 16 tháng 8 năm 2023). Putin's Missile War: Russia's Strike Campaign in Ukraine (bằng tiếng Anh). Rowman & Littlefield. tr. 29. ISBN 978-1-5381-7067-0. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2023.
  4. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 X-58E, Tactical Missiles Corporation JSC, 2004, Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007, truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2009
  5. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 "Kh-58 (AS-11 'Kilter')", Jane's Air-Launched Weapons, ngày 24 tháng 10 năm 2007
  6. 1 2 Cohen, Ariel (2011). The Russian Military and the Georgia War: Lessons and Implications (bằng tiếng Anh). Strategic Studies Institute, U.S. Army War College. tr. 20, 40. ISBN 978-1-58487-491-1. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2023.
  7. "Experts invited by Georgia say plane from Russia". Reuters (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2023.
  8. "Airshow China 2014: PAK-FA's new anti-radiation missile set for 2015 series production", Jane's Defence Weekly, ngày 13 tháng 11 năm 2014
  9. "Kh-58UShKE Anti-Radiation Missile". Rosoboronexport.
  10. "MAKS 2015: KRTV adds IR seeker to Kh-58UShK anti-radiation missile". Jane's 360. ngày 28 tháng 8 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026.
  11. Mladenov 2013, tr. 41-42
  12. 1 2 3 International Institute for Strategic Studies (ngày 15 tháng 2 năm 2023). The Military Balance 2023 (ấn bản thứ 1). Routledge. ISBN 978-1032508955.
  13. Altobchi, Ali; Cooper, Tom; Fontanellaz, Adrien (2022). Al-Hussein: Iraqi indigenous conventional arms projects, 1980-2003. Warwick, UK: Helion & Company Publishing. tr. 59. ISBN 978-1-914377-18-1.
  14. International Institute for Strategic Studies (ngày 5 tháng 2 năm 2014). The Military Balance 2014 (ấn bản thứ 1). Routledge. ISBN 978-1032508955.