Nick Rimando
|
Rimando với Real Salt Lake năm 2010 | ||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | ||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Nicholas Paul Rimando[1] | |||||||||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 17 tháng 6, 1979 | |||||||||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Montclair, California, Hoa Kỳ | |||||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 5 ft 9 in (1,75 m)[2] | |||||||||||||||||||||||||
| Vị trí | Thủ môn | |||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ đại học | ||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||||||||||||||
| 1997–1999 | UCLA Bruins | 48 | (0) | |||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | ||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||||||||||||||
| 2000–2001 | Miami Fusion | 47 | (0) | |||||||||||||||||||||||
| 2000 | → MLS Pro-40 (mượn) | 2 | (0) | |||||||||||||||||||||||
| 2002–2006 | D.C. United | 98 | (0) | |||||||||||||||||||||||
| 2007–2019 | Real Salt Lake | 369 | (0) | |||||||||||||||||||||||
| Tổng cộng | 516 | (0) | ||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | ||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||||||||||||||
| 1998–1999 | Hoa Kỳ | 31 | (0) | |||||||||||||||||||||||
| 2002–2017 | Hoa Kỳ | 22 | (0) | |||||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| ||||||||||||||||||||||||||
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia | ||||||||||||||||||||||||||
Nicholas Paul Rimando (sinh ngày 17 tháng 6 năm 1979) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Mỹ từng thi đấu ở vị trí thủ môn. Trải qua toàn bộ sự nghiệp tại Major League Soccer, ông giữ các kỷ lục về số trận thắng, số trận giữ sạch lưới, số pha cứu thua và tổng số lần ra sân trong sự nghiệp.[3][4] Ông cũng từng thi đấu cho đội tuyển quốc gia Hoa Kỳ.
Trẻ và đại học
[sửa | sửa mã nguồn]Rimando sinh tại Montclair, California, và theo học Montclair High School. Ông chơi bóng đá đại học trong hai năm tại UCLA. Khi là sinh viên năm nhất năm 1997, ông bắt chính khi Bruins giành College Cup; sau năm hai, ông ký hợp đồng Project-40 với MLS.[5]
Sự nghiệp chuyên nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Miami và D.C.
[sửa | sửa mã nguồn]Rimando được Miami Fusion chọn ở lượt thứ 35 tại vòng ba của MLS SuperDraft, và nhanh chóng giành vị trí bắt chính từ Jeff Cassar, đá chính 22 trận khi còn là tân binh. Ông đá chính 25 trận ở mùa giải kế tiếp, giúp Fusion giành MLS Supporters' Shield 2001.[6]
Khi Fusion bị giải thể sau mùa giải 2001, Rimando được D.C. United chọn ở vị trí thứ ba chung cuộc (huấn luyện viên của ông tại Miami, Ray Hudson, là huấn luyện viên mới của United) trong Allocation Draft sau đó. Tại DC, Rimando thi đấu mọi trận trong năm 2002 và 25 trận trong năm 2003 cho đến khi bỏ lỡ giai đoạn cuối mùa giải vì chấn thương. Năm 2004, sau khi Hudson ra đi, ông mất vị trí bắt chính vào tay Troy Perkins, nhưng giành lại vị trí này ở chặng cuối, góp phần giúp DC vô địch MLS Cup. Năm 2005, ông lấy lại vị thế thủ môn bắt chính thường xuyên, nhưng lại bị Perkins vượt qua vào năm 2006 và chỉ thi đấu hai trận trong cả mùa giải.
Real Salt Lake
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 11 tháng 12 năm 2006, Rimando được trao đổi cùng Freddy Adu sang Real Salt Lake.[7] Sau đó, ông được trao đổi sang New York Red Bulls vào ngày 9 tháng 2,[8] rồi lại được trao đổi trở lại Real Salt Lake vào ngày 23 tháng 2 sau khi thủ môn số một của đội này, Scott Garlick, bất ngờ giải nghệ.[9]
Rimando là thủ môn số một của RSL trong mùa giải 2007. Đội bóng của ông liên tục gặp khó khăn và không thực sự cạnh tranh suất dự play-off, nhưng Rimando dẫn đầu MLS với 146 pha cứu thua trong 27 trận, bao gồm các màn trình diễn trước New England (13 pha cứu thua trong trận hòa 0–0 ngày 2 tháng 6) và Toronto FC (12 pha cứu thua trong trận hòa 0–0 ngày 15 tháng 9). Nỗ lực của ông được ghi nhận vào cuối mùa giải khi ông được vinh danh là Most Valuable Player của Real Salt Lake năm 2007.
Rimando tiếp tục là thủ môn số một của Salt Lake trong các năm 2008 và 2009. Ông nổi lên như một trong những thủ môn hàng đầu giải đấu, thể hiện qua giải Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của MLS vào tháng 7 năm 2008.[10] Màn trình diễn chắc chắn trong khung thành của ông, kết hợp với khả năng phòng ngự tiến bộ rõ rệt của đội, đưa đội vào chung kết Western Conference năm 2008 và tiến xa hơn nữa vào năm 2009. Ở chung kết Eastern Conference trước Chicago Fire, RSL hòa không bàn thắng sau 120 phút. Rimando thực hiện nhiều pha cứu thua trong thời gian thi đấu chính thức và hiệp phụ, sau đó có thêm ba pha cản phá trên chấm phạt đền, giúp đội giành chiến thắng 5–4 trong loạt sút luân lưu. Trong trận tranh chức vô địch MLS Cup, Rimando một lần nữa phải đối mặt với loạt sút luân lưu, và một lần nữa ông tỏa sáng. Ông có ba pha cứu thua, giúp RSL giành chiến thắng trước Los Angeles Galaxy. Nhờ những nỗ lực này, ông được vinh danh là MVP MLS Cup, chỉ là thủ môn thứ hai giành được danh hiệu này (Tony Meola từng làm được vào năm 2000).
Năm 2010, RSL nổi lên như có thể là đội bóng phòng ngự hay nhất trong lịch sử Major League Soccer. Với Rimando trong khung thành, Salt Lake lập kỷ lục MLS về số bàn thua ít nhất trong một mùa giải – chỉ 20 bàn sau 30 trận. Rimando cũng lập các kỷ lục câu lạc bộ về số trận giữ sạch lưới nhiều nhất trong một mùa giải (14) và chuỗi giữ sạch lưới dài nhất (568 phút). Ngoài ra, đội còn lập kỷ lục giải đấu về hiệu số bàn thắng bại cao nhất (+25), nhưng bị FC Dallas gây bất ngờ ở vòng đầu tiên của play-off và không thể bảo vệ danh hiệu MLS Cup từ mùa giải trước. Bất chấp mùa giải xuất sắc – một trong những mùa giải hay nhất của một thủ môn trong bóng đá chuyên nghiệp Mỹ – Rimando không nhận giải Thủ môn xuất sắc nhất năm của MLS. Thay vào đó, danh hiệu được trao cho Donovan Ricketts của L.A. Galaxy, gây ra một số tranh cãi quanh giải đấu.[11][12]
Ngày 4 tháng 2 năm 2011, Rimando ký gia hạn hợp đồng với RSL, giữ ông ở lại câu lạc bộ đến hết mùa giải 2013.[13]
Ngày 3 tháng 3 năm 2013, Rimando trở thành thủ môn MLS thứ hai đạt 100 trận giữ sạch lưới sau chiến thắng 2–0 trước San Jose Earthquakes.
Tháng 12 năm 2013, Real Salt Lake và Rimando đến Sporting Park ở Kansas City, Kansas để đối đầu Sporting Kansas City trong trận tranh chức vô địch MLS. Rimando thi đấu tốt bất chấp nhiệt độ 10 độ. Ông có bốn pha cứu thua quan trọng trong trận.[14] Pha cứu thua thứ ba của ông có lẽ là pha hay nhất. Graham Zusi tung cú vô-lê nửa nảy ở tầm cao, nhưng Rimando đẩy bóng qua xà ngang. Trận đấu bước vào loạt sút phạt đền sau khi hòa 1–1. Rimando cản phá một quả phạt đền của Matt Besler, nhưng Real Salt Lake thua ở loạt sút cân não.
Ngày 9 tháng 8 năm 2014, khi thi đấu trên sân nhà trước câu lạc bộ cũ D.C. United, Rimando giành vị trí dẫn đầu về số trận giữ sạch lưới trong sự nghiệp của một thủ môn MLS trong chiến thắng 3–0.
Ngày 1 tháng 3 năm 2019, Rimando thông báo ông sẽ giải nghệ sau mùa giải 2019.[15] Ông thi đấu trận cuối cùng vào ngày 23 tháng 10 năm 2019, trong một trận MLS Cup Playoffs gặp Seattle Sounders FC tại CenturyLink Field ở Seattle, Washington. Rimando thi đấu với chấn thương vai trái và có bảy pha cứu thua khi Real Salt Lake thua 0–2 và bị loại khỏi play-off.[16][17] Ông kết thúc sự nghiệp MLS với các kỷ lục của giải về số lần ra sân (515), số trận thắng (223), số pha cứu thua (1.712) và số trận giữ sạch lưới (154).[16]
Sự nghiệp quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]Dù chủ yếu là phương án dự bị cho Tim Howard, Rimando thi đấu cho Hoa Kỳ tại Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới 1999 ở Nigeria. Ông có lần đầu khoác áo đội tuyển cấp cao vào ngày 17 tháng 11 năm 2002, trong trận gặp El Salvador. Sau đó, ông không nhận được nhiều sự chú ý từ đội tuyển quốc gia cho đến khi màn trình diễn nổi bật tại MLS năm 2009 thu hút sự chú ý của huấn luyện viên Hoa Kỳ Bob Bradley. Rimando được mời tập luyện cùng đội tuyển cấp cao vào năm 2010 để chuẩn bị cho World Cup, dù không được chọn tham dự giải đấu. Kể từ đó, ông có một số lần ra sân quốc tế, bao gồm màn trình diễn nổi bật trong trận giao hữu gặp Panamá vào ngày 25 tháng 1 năm 2012.[18] Ông thường xuyên là thủ môn lựa chọn thứ ba dưới thời cựu huấn luyện viên Jürgen Klinsmann, và là thủ môn lựa chọn số một tại Cúp Vàng CONCACAF.
Ngày 22 tháng 5 năm 2014, Rimando có tên trong danh sách 23 cầu thủ cuối cùng tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 tại Brasil.[19] Đây là lần đầu tiên ông có tên trong danh sách dự vòng chung kết World Cup, dù ông không thi đấu phút nào trong các trận của đội tuyển nam Hoa Kỳ.
Đời tư
[sửa | sửa mã nguồn]Cha của Rimando là người gốc Philippines và mẹ là người gốc México.[20] Tháng 12 năm 2005, Rimando kết hôn với bạn gái lâu năm, Jacqui Little. Cô từng thi đấu cho Washington Freedom tại WUSA hiện đã giải thể và cũng đến từ California. Hôn lễ do đồng đội Ben Olsen chủ trì tại Malibu, California.[21] Rimando và Little có hai người con, Jett Nicholas Rimando và Benny Rose Rimando. Hai người sau đó đã ly hôn.[22]
Thống kê sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]| Câu lạc bộ | Mùa giải | MLS | Play-off MLS Cup | U.S. Open Cup | CONCACAF | Tổng cộng | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Miami Fusion | 2000 | 22 | 0 | 0 | 0 | 3 | 0 | 0 | 0 | 25 | 0 |
| 2001 | 25 | 0 | 6 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 31 | 0 | |
| Tổng cộng | 47 | 0 | 6 | 0 | 3 | 0 | 0 | 0 | 56 | 0 | |
| D.C. United | 2002 | 28 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 30 | 0 |
| 2003 | 25 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 25 | 0 | |
| 2004 | 13 | 0 | 4 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 18 | 0 | |
| 2005 | 30 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 6 | 0 | 38 | 0 | |
| 2006 | 2 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 4 | 0 | |
| Tổng cộng | 98 | 0 | 6 | 0 | 3 | 0 | 8 | 0 | 115 | 0 | |
| Real Salt Lake | 2007 | 27 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 27 | 0 |
| 2008 | 30 | 0 | 3 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 33 | 0 | |
| 2009 | 26 | 0 | 4 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 30 | 0 | |
| 2010 | 27 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 5 | 0 | 34 | 0 | |
| 2011 | 33 | 0 | 3 | 0 | 0 | 0 | 6 | 0 | 42 | 0 | |
| 2012 | 31 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 4 | 0 | 37 | 0 | |
| 2013 | 27 | 0 | 5 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 34 | 0 | |
| 2014 | 24 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 26 | 0 | |
| 2015 | 24 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | 2 | 0 | 27 | 0 | |
| 2016 | 30 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 33 | 0 | |
| 2017 | 28 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 28 | 0 | |
| 2018 | 33 | 0 | 3 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 36 | 0 | |
| 2019 | 29 | 0 | 2 | 0 | 1 | 0 | 1 | 0 | 33 | 0 | |
| Tổng cộng | 369 | 0 | 27 | 0 | 5 | 0 | 20 | 0 | 421 | 0 | |
| Tổng cộng sự nghiệp | 514 | 0 | 39 | 0 | 11 | 0 | 28 | 0 | 592 | 0 | |
Quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Hoa Kỳ | 2002 | 1 | 0 |
| 2003 | 2 | 0 | |
| 2010 | 1 | 0 | |
| 2011 | 1 | 0 | |
| 2012 | 1 | 0 | |
| 2013 | 6 | 0 | |
| 2014 | 4 | 0 | |
| 2015 | 5 | 0 | |
| 2017 | 1 | 0 | |
| Tổng cộng | 22 | 0 | |
Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]Miami Fusion
D.C. United
Real Salt Lake
Hoa Kỳ
Cá nhân
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "2014 FIFA World Cup Brazil: List of Players" (PDF). FIFA. ngày 11 tháng 6 năm 2014. tr. 32. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2014.
- ↑ "Nick Rimando MLS".
- ↑ "Real Salt Lake's Nick Rimando, Kyle Beckerman set all-time MLS records", MLSsoccer.com, August 26, 2016.
- ↑ "Rimando RSL".
- ↑ "Nick Rimando". worldfootball.net (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web 2000
- ↑ Goff, Steven (ngày 12 tháng 12 năm 2006). "Adu Is Headed West in A Trade". www.washingtonpost.com.
- ↑ "Red Bulls acquire goalie Rimando".
- ↑ "ksl.com - Real Salt Lake Re-acquires gk Nick Rimando". www.ksl.com.
- ↑ "RSL goalie is MLS player of month" (reprint). Deseret News. Salt Lake City: Find Articles. ngày 1 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2011.
- ↑ Edward, James (ngày 4 tháng 2 năm 2011). "Real Salt Lake gives goalie Nick Rimando extension". Deseret News. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2011.
- ↑ "MLS player heights".
- ↑ "Real Salt Lake goalkeeper Nick Rimando signs contract extension". Our Sports Central. ngày 4 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
- ↑ "RSL's Nick Rimando is retiring after this season. Here's how he became the greatest goalkeeper in MLS history — and how Utah became home". The Salt Lake Tribune (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2020.
- ↑ Bogert, Tom (ngày 1 tháng 3 năm 2019). "Real Salt Lake's Nick Rimando to retire after 2019". MLSsoccer.com. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2023.
- 1 2 Wood, Terry (ngày 23 tháng 10 năm 2019). "Sounders silence RSL 2-0 in playoff contest, Nick Rimando's 2019 game". Deseret News. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Pyzdrowski, Matt (ngày 4 tháng 11 năm 2019). "How Nick Rimando's final match highlighted his brilliance one last time". The Athletic. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "ESPN Soccer: U.S. vs. Panama player grades". ngày 26 tháng 1 năm 2012.
- ↑ Bản mẫu:Chú thích web 2013
- ↑ Joaquin Henson (ngày 1 tháng 12 năm 2009). "Fil-Am thwarts Beckham's goal". PhilStar.com. The Philippine Star. Bản gốc lưu trữ tháng 5 25, 2012. Truy cập tháng 12 1, 2009.
- ↑ "Behind the Badge: Triple threat". DCUnited.com. ngày 15 tháng 12 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2010.
- ↑ "KUTV 2News "Person 2 Person: Nick Rimando"". KUTV 2News Utah. ngày 9 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2013.
- ↑ "Player bio". Major League Soccer.
- ↑ "N. Rimando". Soccerway.
- ↑ "Registry". Real Salt Lake. ngày 23 tháng 1 năm 2014.
- ↑ Nick Rimando tại National-Football-Teams.com
- ↑ "Nick Rimando | 2025 National Soccer Hall of Fame Inductee | National Soccer Hall of Fame". Nick Rimando | 2025 National Soccer Hall of Fame Inductee | National Soccer Hall of Fame (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2026.
- ↑ dcunited. "Eight years to the day, United won its fourth MLS Cup | DC United". dcunited (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2026.
- ↑ mlssoccer. "D.C. United clinch 2006 MLS Supporters' Shield | MLSSoccer.com". mlssoccer (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2026.
- ↑ rsl. "Meet the 2009 MLS Cup Winning Team | Real Salt Lake". rsl (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "USA 1–0 Panama – as it happened". Guardian UK. ngày 28 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Nick Rimando Elected to National Soccer Hall of Fame | National Soccer Hall of Fame". Nick Rimando Elected to National Soccer Hall of Fame | National Soccer Hall of Fame (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2025.
- ↑ "2019 MLS All-Star Roster". Major League Soccer. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2019.
- ↑ Rodriguez, Alicia (ngày 24 tháng 10 năm 2019). "Nick Rimando wins MLS Save of the Year presented by Allstate". Major League Soccer. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2019.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Nick Rimando tại Major League Soccer
- Nick Rimando tại U.S. Soccer (archived)
- Nick Rimando tại National-Football-Teams.com
- Nick Rimando tại Soccerway
- Nick Rimando tại Real Salt Lake
- Nick Rimando tại AS.com (bằng tiếng Tây Ban Nha)
- Nick Rimando tại WorldFootball.net
- Sinh năm 1979
- Nhân vật còn sống
- Cầu thủ bóng đá nam Hoa Kỳ
- Người Hoa Kỳ gốc Philippines
- Nhân vật thể thao gốc Philippines
- Người Hoa Kỳ gốc México
- Nhân vật thể thao gốc México
- Thủ môn bóng đá nam
- Cầu thủ bóng đá UCLA Bruins
- Cầu thủ bóng đá Miami Fusion
- Cầu thủ bóng đá MLS Pro-40
- Cầu thủ bóng đá D.C. United
- Cầu thủ bóng đá Real Salt Lake
- Người Montclair, California
- Cầu thủ bóng đá San Bernardino County, California
- Cầu thủ bóng đá Cúp Vàng CONCACAF 2011
- Cầu thủ bóng đá Cúp Vàng CONCACAF 2013
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2014
- Cầu thủ bóng đá Cúp Vàng CONCACAF 2015
- Cầu thủ vô địch Cúp Vàng CONCACAF
- Cầu thủ bóng đá Major League Soccer
- Major League Soccer All-Stars
- Cầu thủ bóng đá A-League (1995–2004)
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá U-20 nam quốc gia Hoa Kỳ
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá nam quốc gia Hoa Kỳ
- Thành viên Đại sảnh Danh vọng National Soccer