close
Bước tới nội dung

Kufstein

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Kufstein
Kufstoa
  Đô thị  
Pháo đài Kufstein với dãy núi Brandenberg Alps phía sau
Huy hiệu của Kufstein
Huy hiệu

Vị trí trong huyện Kufstein
Kufstein trên bản đồ Áo
Kufstein
Kufstein
Vị trí trong nước Áo
Quốc giaÁo
BangTyrol
HuyệnKufstein
Chính quyền
  Thị trưởngMartin Krumschnabel (Độc lập)
Diện tích[1]
  Tổng cộng39,4 km2 (152 mi2)
Độ cao499 m (1,637 ft)
Dân số (2018-01-01)[2]
  Tổng cộng19.223
  Mật độ49/km2 (130/mi2)
Múi giờUTC+1, UTC+2
  Mùa  (DST)CEST (UTC+2)
Mã bưu điện6330-6333
Mã vùng05372
Biển số xeKU
Thành phố kết nghĩaAmasya, Frauenfeld, Langenlois, Rovereto
Websitewww.kufstein.at Sửa dữ liệu tại Wikidata

Kufstein (phát âm tiếng Đức: [ˈkʊfʃtaɪn] ; Tiếng Bavaria Trung tâm: Kufstoa) là một thị trấn thuộc bang Tyrol của Áo, là trung tâm hành chính của Huyện Kufstein. Với dân số khoảng 20.000, đây là thị trấn lớn thứ hai của Tyrol sau thủ phủ Innsbruck. Điểm mốc nổi tiếng nhất là Pháo đài Kufstein, lần đầu được nhắc đến vào thế kỷ 13. Thị trấn cũng là nơi xuất phát của gia tộc quý tộc Áo Kuefstein.

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]
Quang cảnh Kufstein với Pháo đài của Rudolf Reschreiter, khoảng năm 1929

Thị trấn nằm trong khu vực Tyrolean Unterland trên sông Inn, tại nơi hợp lưu với các nhánh WeißacheKaiserbach, gần biên giới với Bavaria, Đức. Khu vực đô thị trải dài theo Thung lũng Hạ Inn giữa Dãy núi Brandenberg Alps ở phía tây bắc và Dãy núi Kaiser ở phía đông nam. Thung lũng hẻo lánh Kaisertal cho đến gần đây vẫn là thung lũng có người ở cuối cùng ở Áo chưa có đường giao thông, trước khi một đường hầm từ Kufstein tới Ebbs lân cận hoàn thành năm 2008. Phía bắc thị trấn, sông Inn rời Dãy núi đá vôi Bắc và chảy vào Vùng đồi núi trước dãy Alps Bavaria. Khu vực thị trấn có nhiều hồ nhỏ như Pfrillsee, Längsee, và Hechtsee; EgelseeMaistaller Lacke là các khu bảo tồn thiên nhiên.

Về mặt hành chính, thị trấn bao gồm các cộng đồng địa chính Kufstein, Morsbach và Thierberg; bản thân thị trấn được chia thành năm khu (Zentrum, Sparchen, Weissach, Endach, và Zell).

Các công ty đặt trụ sở tại Kufstein gồm nhà sản xuất thủy tinh Riedel, công ty vận tải LKW Walter, nhà sản xuất súng Voere, và hãng sản xuất thảm dệt Kleen-Tex.

Kufstein cũng là nơi đặt Đại học Khoa học Ứng dụng Kufstein, chuyên về giáo dục kinh doanh và là trung tâm trao đổi quốc tế.

Giao thông

[sửa | sửa mã nguồn]

Kufstein có hai lối ra dọc theo A12 đường cao tốc (Autobahn) từ Innsbruck đến Rosenheim.

Ga xe lửa Kufstein, khánh thành năm 1876, là một phần của tuyến Đường sắt Thung lũng Hạ Inn thuộc trục Brenner từ Munich đến Verona.

Festungsbahn là một tuyến tàu leo núi nối trung tâm thành phố với Pháo đài Kufstein.

Lịch sử dân số
NămSố dân±%
18692.777    
18803.787+36.4%
18904.067+7.4%
19004.791+17.8%
19106.717+40.2%
19237.103+5.7%
19347.551+6.3%
19398.233+9.0%
195111.268+36.9%
196111.215−0.5%
197112.913+15.1%
198113.118+1.6%
199113.484+2.8%
200115.358+13.9%
201117.388+13.2%
201520.064+15.4%

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Các phát hiện khảo cổ tại Hang Tischofer ở Kaisertal cho thấy khu vực này đã có người sinh sống hơn 30.000 năm trước, là dấu vết cư trú cổ nhất ở Tyrol. Được sáp nhập vào Đế quốc La Mã năm 15 TCN, sông Inn đã tạo thành ranh giới giữa các tỉnh RaetiaNoricum của La Mã.

Một nhà thờ tại Caofstein lần đầu được nhắc đến trong một văn kiện năm 788 do Giám mục Arno của Salzburg ban hành. Vào thời điểm đó, Thung lũng Hạ Inn thuộc về công quốc Bayern do công tước Agilolfing Tassilo III cai trị, người sau đó bị Charlemagne phế truất và thay thế bằng Tổng trấn Gerold. Pháo đài Kufstein lần đầu được ghi nhận năm 1205 như tài sản của Giám mục Regensburgcông tước Bayern.

Hoàng đế Maximilian tiến vào Kufstein, tranh vẽ năm 1836

Đầu thế kỷ 14, hoàng đế Louis IV thuộc Nhà Wittelsbach, đồng thời là công tước Bayern, đã trao cho người dân Kufstein các quyền tài phán. Kufstein được chuyển sang Bá quốc Tyrol năm 1342 như một quà cưới cho nữ bá tước Margaret từ chồng bà là Louis xứ Brandenburg, con trai của Hoàng đế Louis. Tuy nhiên, sau khi Margaret qua đời năm 1369, thị trấn lại quay về Bayern. Công tước Stephen III của Bayern đã phong Kufstein thành thành phố năm 1393 do tầm quan trọng của nó như một điểm giao thương và bến cảng trên sông Inn.[3] Từ năm 1415, con trai và người kế vị của ông là công tước Louis VII đã cho xây dựng lại và mở rộng pháo đài.

Cuộc vây hãm Pháo đài Kufstein năm 1809

Quyền sở hữu pháo đài Kufstein có vị trí biên giới chiến lược quan trọng luôn gây tranh chấp. Năm 1504, hoàng đế Maximilian I thuộc Nhà Habsburg đã tận dụng cuộc Chiến tranh Kế vị Landshut trong dòng họ Wittelsbach xứ Bayern: quân Áo của ông đã bao vây thị trấn, và tại Chế ướcKöln năm sau, hoàng đế đã quyết định nhượng lại lãnh thổ Kufstein cho Tyrol thuộc Habsburg. Maximilian đã cho xây dựng tháp Kaiserturm nổi bật của pháo đài, hoàn thành vào năm 1522.

Trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, pháo đài lại bị quân Bayern dưới quyền Tuyển hầu Maximilian II Emanuel bao vây năm 1703, tuy nhiên lãnh thổ Áo vẫn được xác nhận theo Hiệp ước Ilbersheim năm sau. Sau Chiến tranh Liên minh thứ ba, Kufstein lại được trao cho Vương quốc Bayern mới thành lập theo Hòa ước Pressburg (1805) và cuộc Khởi nghĩa Tyrol năm 1809 đã bị Quân đội Bayern dập tắt. Cuối cùng, năm 1813/14 thị trấn được chuyển về Đế quốc Áo.

Trong thế kỷ 19, Pháo đài Kufstein được biến thành nhà ngục cho các tù nhân chính trị, như tên tội phạm Hungary Sándor Rózsa, người đã bị giam giữ nhiều năm tại đây trước khi được ân xá năm 1868. Sự phát triển kinh tế của thị trấn được thúc đẩy rõ rệt nhờ việc khai trương tuyến Đường sắt Thung lũng Hạ Inn năm 1858.

Vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, trung tâm lịch sử của thị trấn đã bị đồng minh ném bom. Sau chiến tranh, Kufstein bị quân Pháp và Mỹ chiếm đóng; nơi đây từng có một trại Cơ quan Cứu trợ và Phục hồi Liên Hợp Quốc cho Người di dời.[4]

Toàn cảnh Kufstein
Phong cách kiến trúc điển hình của Tyrol
Pháo đài Kufstein
Wasserbastion, một phần của tường thành trung cổ
Nhà thờ Thánh Vitus
Lễ Almabtrieb thường niên tại Kufstein

Nhờ lịch sử lâu đời, thành phố Kufstein có nhiều điểm tham quan đáng chú ý:

  • Pháo đài (Festung) được xây dựng trên một khối đá cao 90 mét (300 foot). Đôi khi bị gọi nhầm là Schloss Garoldseck, pháo đài lần đầu được nhắc đến với tên Castrum Caofstein trong một tài liệu năm 1205. Nó đã được mở rộng nhiều lần. Tháp quan trọng nhất, Kaiserturm hình tròn và ấn tượng, được xây dựng từ 1518 đến 1522. Trong lịch sử, pháo đài nhiều lần được dùng làm nhà tù. Ngày nay, nó nổi tiếng với đại phong cầm (Heldenorgel).
  • Khu phố cổ (Altstadt) với nhiều con hẻm đẹp, nổi tiếng nhất là Römerhofgasse.
  • Tòa thị chính (Rathaus) nằm ở quảng trường Stadtplatz.
  • Nhà thờ Thánh Vitus là nhà thờ cổ nhất của Kufstein. Được xây dựng từ 1390 đến 1420 theo phong cách kiến trúc Gothic, sau đó được cải tạo thành nhà thờ Baroque từ 1660 đến 1661.
  • Một phần tường thành trung cổ vẫn còn được bảo tồn. Wasserbastei ở phía Bắc phố cổ, nằm trên sông Inn, là điểm tham quan nổi bật. Ở phía Nam của tường, vẫn còn thấy cổng cũ gọi là Auracher Löchl.

Quan hệ quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố kết nghĩa

[sửa | sửa mã nguồn]

Kufstein kết nghĩa với:

Nhân vật nổi bật

[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thao

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn hóa đại chúng

[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh và truyền hình

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều bộ phim và chương trình truyền hình được quay tại Kufstein và vùng lân cận: Destiny (1942), Mountain Crystal (1949), Bluebeard (1951), White Shadows (1951), Das letzte Aufgebot (1953), The Flying Classroom (1954), Graf Porno und die liebesdurstigen Töchter (1969), Vanessa (1977), Sachrang (1978), loạt phim tài liệu Bilderbuch Deutschland (1996), Da wo das Glück beginnt (2006), Da wo es noch Treue gibt (2006), và Da wo die Freundschaft zahlt (2007). Xem thêm tại Internet Movie Database.

Âm nhạc

[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát Kufsteinlied [de] (còn gọi là Das Kufsteiner Lied), sáng tác bởi Karl Ganzer, đã được nhiều nghệ sĩ thể hiện lại, bao gồm HeinoFranzl Lang.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Dauersiedlungsraum der Gemeinden Politischen Bezirke und Bundesländer - Gebietsstand 1.1.2018". Statistics Austria. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2019.
  2. "Einwohnerzahl 1.1.2018 nach Gemeinden mit Status, Gebietsstand 1.1.2018". Statistics Austria. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2019.
  3. Chizzali. Tyrol: Impressions of Tyrol. (Innsbruck: Alpina Printers and Publishers), tr. 44
  4. Eisterer, Klaus (1991). Französische Besatzungspolitik Tirol und Vorarlberg 1945/46-Innsbrucker Forschungen zur Zeitgeschichte Band 9 (bằng tiếng Đức). Innsbruck: Haymon Verlag. tr. 104.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]